CÂU CHUYỆN NHỎ CỦA TÔI. 

0
86
mọi thái độ thể hiện lòng yêu nước và bảo vệ sự vẹn toàn của lãnh thổ cha ông của người dân đã bị thẳng tay đàn áp, bắt bớ hoặc giam cầm.
   

Phạm Thanh Nghiên cùng với Nguyễn Xuân Nghĩa 

(Kỷ niệm 15 năm ngày vào tù và 11 năm ngày mãn án)

*Biệt giam: 

Những ngày đầu, tôi bị giam chung với các nữ tù hình sự khác. Trong cuộc vật lộn mưu sinh, trở thành đủ loại tội phạm (và luôn tự hào rằng phải rất bản lĩnh mới dám thách thức pháp luật) thì sự xuất hiện của một cô gái nhỏ bé bị gán tội “chống Nhà Nước…” là điều ngoài sức tưởng tượng với họ. Từ ngạc nhiên, tò mò rồi thiện cảm, chúng tôi trở nên gần gũi với nhau. Được vài hôm, những ánh mắt thân thiện, cảm mến biến mất. Thay vào đó là thái độ dè dặt, lảng tránh pha chút sợ sệt. Chính sách cô lập bắt đầu có hiệu quả! 

Sắp đến giờ cơm chiều. Tiếng ổ khóa vang lên chát chúa. Tiếp đó là giọng nói lạnh tanh của quản giáo: “Phạm Thanh Nghiên chuẩn bị nội vụ!”. Mọi ánh mắt đổ dồn về phía tôi, lo lắng, thương cảm, hoảng hốt: “Chết rồi, bị đi ép cung rồi”, “Chị ơi! Biệt giam rồi.”, “Khổ thân, người bé như cái kẹo, chịu sao nổi cháu ơi!”. Mỗi người góp một tí, từ chai mắm, gói lạc, ít bột canh, cuộn băng vệ sinh… tất cả được đùm vào một túi ni-lông, ấn vội vào tay tôi. Tôi không đủ thời gian đùn đẩy. Nhận cũng tốt. Đây sẽ là vốn liếng giúp tôi “cầm cự”, chờ đợi đến lúc nhận được quà tiếp tế từ gia đình. Tôi không sợ biệt giam, không sợ bị ép cung. Tôi sợ những ánh mắt thương cảm của họ. Những tình cảm rất con người mà vì một sức ép đáng sợ nào đó, họ buộc phải thủ tiêu đi. 

Tôi bước ra cửa, không ngoái lại nhìn. Sau lưng, vài giọt nước mắt lặng lẽ rơi. Nhà tù, thì ra vẫn còn chỗ cho tình thương yêu và lòng nhân ái. 

Dẫn tôi đi là người cai tù tên Cường. Sau này tôi được nghe nhiều chuyện về ông ta, chủ yếu về thành tích làm giàu bất chính và đánh tù. Tôi cắp túi quần áo, chân đất đi trên những con hẻm nhếch nhác vì mưa phùn, qua những dãy nhà giam lạnh ngắt và xám xịt. Trong những bức tường lặng câm kia là vô vàn sự chờ đợi và tuyệt vọng. Chờ đợi để được phán xử không theo cách của con người, rồi buộc phải hiến mình cho sự khổ ải và hao mòn trong các trại tù. 

Khu giam giữ mới có khoảng sân khá rộng. Sau khi làm các thủ tục cần thiết, Cường “bàn giao” tôi cho đồng nghiệp. Tôi đi theo Khánh, cảm giác như đang bị nuốt vào một đường hầm. Lần đầu tiên kể từ khi bị bắt, tôi mới thực sự thấy hết cái âm u của chốn ngục tù. Chỉ khi dừng lại theo lời nhắc của Khánh, tôi mới biết mình đang đứng trước một cánh cửa. Cửa mở, hai đồng tử của tôi giãn ra: đây là nơi dành cho con người ư?

Prison within prison

Cái gọi là buồng giam rộng chừng 6m2. Hai bệ xi-măng đối diện nhau (chừa một lối đi hẹp ở giữa, tù quen gọi là “xa lộ”) dùng làm chỗ nằm. Từ cửa đến chân bệ nằm còn khoảng trống nho nhỏ để đồ ăn. Trong buồng không có nhà vệ sinh nên phải dùng bô. Chỗ để bô cách chỗ để đồ ăn chừng ba bước chân. Một trong hai bệ nằm có gắn cố định một cùm sắt, dùng để cùm chân những người tù bị kỷ luật hoặc tử tù chờ ngày ra pháp trường. Tôi vào sau Luyến vài ngày, đương nhiên phải nằm chung với cái cùm. Luyến thường mắng tôi vì thói quen luồn chân vào cái cùm. Bảo tôi không chịu kiêng kỵ, có ngày bị cùm thật cũng nên. Hàng ngày tôi đi bộ hàng chục lượt trên “xa lộ”, coi như tập thể dục. Từ đầu đến cuối xa lộ chỉ dăm bước chân, đi vài vòng phải nghỉ một lần để khỏi chóng mặt. 

Mỗi ngày hai lần: sáng và chiều, cai tù mở cửa cho tù nhân ra ngoài làm vệ sinh cá nhân và lấy cơm. Mỗi lần chừng hai mươi đến ba mươi phút. Hầu như ngày nào tôi cũng phải đi cung nên mọi việc, từ giặt giũ, đổ bô, lấy cơm, rửa bát…, Luyến phải kiêm nhiệm hết. Có hôm, chưa làm vệ sinh xong, điều tra viên đã đứng đợi ngoài cửa. Chắc chỉ có tù nhân lương tâm như tôi mới phải trải qua tình trạng ngồi bệ xí trong sự chờ đợi và thúc giục của cả cai tù lẫn điều tra viên mà thôi. Suốt bốn tháng biệt giam, tôi phải đi cung hàng chục lần, chưa kể thời gian ở buồng chung hơn một năm. Chuyện này xin được kể trong một dịp khác. 

Luyến có tật xấu, đi ngoài vô tội vạ, không theo giờ giấc. Nhiều hôm cứ đóng cửa buồng cô nàng mới đi, mỗi lần như thế lại chữa ngượng: “Em luyện mãi mà không được, cứ nhìn thấy công an là nó lại thụt vào. Hình như cứt sợ công an chị ạ”. 

Hai cái bô chứa đầy “sản phẩm” của Luyến. Mùi xú uế bốc lên nồng nặc. Đã thế, cô nàng còn lên lớp tôi: 

– Chị phải uống thật nhiều nước mới tốt cho sức khỏe, người đâu mà gầy đét, trông chán lắm. 

Tôi đáp

-Có hai cái ngai vàng, mày ngự cả hai, chị uống nhiều nước thì chứa vào đâu?

Cô nàng nhe hàm răng ám khói thuốc cười trừ. Nhìn Luyến, tôi thấm thía hai câu thơ (được cho là của ông Hồ): “Cửa tù khi mở không đau bụng, đau bụng thì không mở cửa tù”. 

Cánh cửa sắt, may quá có sáu lỗ nhòm to bằng quả trứng chim cút – thứ duy nhất làm chúng tôi tạm quên mình đang ở trong một cái hộp. Hàng ngày được ra ngoài, tôi thường vãi cơm ra sân để dụ lũ chim sẻ đến. Qua sáu cái lỗ thông hơi quý giá đó, tôi và Luyến luân phiên nhau chiêm ngưỡng, ngắm nghía chúng. Luyến ước: “Giá biết bay như chúng, em sẽ bay về ôm hôn thằng Cu cho thật đã”. Rồi như tiếc rẻ “Nhưng làm con chim bay được thì lại không lắc, không phê được. Làm người như em, tuy tù tội nhưng được biết mùi đời. Sướng thân! Như chị thì thiệt, chả biết đếch gì. Chán chết!”. 

Tôi không thích tranh cãi với Luyến những lúc như thế. Lũ chim vô tâm, chúng nhặt nhạnh những hạt cơm cuối cùng rồi bay đi, mặc kệ tôi ngẩn ngơ. Không có cách nào gọi chúng lại. Tôi tủi thân, đâm ra giận chúng, hôm sau không vãi cơm cho chúng nữa. Theo thói quen, lũ chim bay đến ngơ ngác, tìm kiếm rồi bỏ đi. Tôi buồn! Từ đó không dám tự trừng phạt mình nữa.

Phòng giam khu A-B trại tạm giam Chí Hoà

*Một lần đi cung: 

Một vật gì giống như con rắn nằm lù lù giữa sân. Vừa nhận ra thứ đó dành cho mình, một luồng hơi lạnh chạy dọc sống lưng. Sau cái rùng mình, mặt tôi nóng ran, hai thái dương giật liên tục. Không thể để cơn phẫn nộ được dịp bung ra. Tôi sẽ luồn chân vào đó. Phải nếm trải hết mọi cay đắng của người tù. Tôi đứng im, ngoan ngoãn cho Khánh xiềng chân mình. Nét ái ngại lộ rõ trên gương mặt anh ta: “Chị Nghiên đi chậm thôi, sẽ đỡ đau”. Tôi hít một hơi thở sâu chờ Khánh mở cửa. Ánh mắt tôi đập vào ánh mắt người điều tra viên. Dù cố tỏ ra tự nhiên, nhưng tôi biết anh ta chứ không phải tôi đang bị chi phối bởi cái xiềng chân. Tôi không đi chậm như lời khuyên của Khánh. Bị thôi thúc bởi lòng kiêu hãnh, tôi bước thật nhanh bất chấp hai vòng xích đập vào mắt cá chân đau điếng. Tôi không cho phép Dương có cơ hội thấy tôi trong bộ dạng chậm chạp và đáng thương. Chỉ thể hiện ở bước đi thôi chưa đủ, tôi bông phèng: 

– Này anh, giúp tôi một việc được không? 

– Việc gì chị? 

– Nhờ anh đăng ký với kỷ lục ghi-nét, công nhận tôi là người phụ nữ có cái lắc chân to và độc nhất thế giới nhé? 

Bị bất ngờ, anh ta im lặng. Sau một hồi, tính háo thắng trỗi dậy, anh ta trả đũa: 

– Nếu bây giờ tôi bắc thang cho chị trèo tường về, chị có về không? 

– Sao nghiệp vụ anh kém thế? 

– Gì cơ? 

– Tôi bảo nghiệp vụ anh kém vì anh đi điều tra tôi mà không hiểu gì về tôi. Này nhé, tôi vào đây một cách đường hoàng thì cũng đường hoàng rời khỏi đây. Không phải các anh tùy tiện bắt rồi thả vô tội vạ là được. 

Có lẽ Dương thấy tiếc về câu hỏi vừa rồi. 

Người trực trại (cai tù) và bọn điều tra viên đã chầu sẵn ở buồng hỏi cung. Chờ tôi ngồi xuống, viên trực trại rướn người qua mặt tôi, kéo thanh sắt vốn được bắt vít cố định nơi tay vịn, khóa lại. Động tác rất dứt khoát với vẻ mặt rất nghiêm trọng. Chắc đấy là thứ công cụ được phát minh ra để bảo vệ các nhân viên điều tra khi hỏi cung những tên tội phạm thuộc diện đặc biệt nguy hiểm. Thế ra, tôi được liệt vào loại “đặc biệt nguy hiểm” cơ đấy. Tôi quan sát việc liên quan đến mình như một kẻ thực sự bị thuần phục. Xong việc, viên trực trại lui về đứng phía sau tôi, chắc sẵn sàng tung đòn cứu đồng đội nếu đối tượng manh động. 

Hai điều tra viên đặt hồ sơ lên bàn: 

– Chúng ta bắt đầu làm việc!

Tôi lơ đễnh nhìn lên trần nhà. 

– Chúng ta làm việc thôi chị Nghiên. Tên Chiềm nhắc.

– Anh bảo gì cơ? Vẻ ngoan ngoãn lúc đầu của tôi khiến họ không chuẩn bị tâm lý đối phó cho sự phản công. 

– Chúng ta vào việc… 

– Làm gì có chuyện ấy. Các anh nghĩ tôi sẽ làm việc với các anh trong tình trạng này sao? 

– Đây là quy định của… 

Không để anh ta nói hết câu, tôi ngắt lời:

– Là quy định của các anh thôi. Nguyên tắc của tôi là không làm việc với các anh trong tình trạng này. 

Hai điều tra viên nhìn tôi chằm chằm. Tôi tiếp tục nhìn lên trần nhà, lưng dựa ra sau ghế, các ngón tay gõ gõ vào thanh sắt chắn ngang trước mặt, chân đung đưa khiến cái xiềng cọ xuống nền nhà phát ra thứ âm thanh khô khốc, nghe rờn rợn. Cuối cùng, một trong hai tên điều tra viên phải ra hiệu cho trực trại mở xiềng chân và thanh sắt chắn ngang ra. 

Tôi thôi nhìn lên trần nhà: 

– Đây sẽ là lần đầu và cũng là lần cuối tôi cho phép các anh làm thế. Nếu việc này còn tái diễn thì các anh sẽ chỉ nhận được một thứ duy nhất từ tôi, đó là sự im lặng. Mong các anh nhớ cho. 

Trở về buồng giam, tôi mệt mỏi nằm vật xuống. Nhìn Luyến với đôi mắt đỏ hoe, tôi đâm cáu. Cô nàng mặc cho tôi mắng mỏ, cứ sấn vào xoa xoa bóp bóp chỗ đau cho tôi. Tôi hắt hủi cô nàng để khỏi phải thương hại mình. Tôi nghĩ đến chú Nghĩa, đến Ngô Quỳnh và các anh em khác bị bắt cùng đợt với tôi. Không biết họ bị đối xử ra sao? Nhưng tôi tin, dù ở trong hoàn cảnh nào thì những người anh em ấy sẽ không cáu gắt bạn tù vô lối như tôi, mà luôn ngạo nghễ và nở nụ cười nhân ái vì nhà tù là sự lựa chọn “bất khả kháng”, là cánh cửa duy nhất để đến với tự do. 

                                                                  Viết sau những ngày mới ra tù.

(Ghi chú: có bổ sung một vài chi tiết).

Advertisement
   

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here