THÁI HẠO, TIẾNG NÓI MỚI, VANG RỀN

    0
    11
    THÁI HẠO

    Kim Cúc Ngô Thị

    NGUYỄN ĐỨC TÙNG 

    Thế giới thường xuyên thay đổi, nhưng chưa bao giờ thay đổi nhanh đến thế, như trong những năm qua. Dịch bệnh, chiến tranh, tra tấn, dân tộc chia rẽ, môi trường thiên nhiên bị tàn phá đến cùng kiệt. Con người ngày càng tham lam, ngày càng sống hời hợt và giả dối.

    Và bên dưới tất cả những thứ ấy, có một điều gì sâu hơn nữa, sâu xa nhất, chi phối tất cả: sự sợ hãi.

    Tại sao chúng ta sợ hãi?

    Tôi đã tự hỏi ngàn lần

    Tại sao chúng ta sợ hãi?

    Loài linh trưởng trong tôi gào thét

    Đại ngàn trút lá

    Tôi thèm làm người

    Nguyên sinh

    Trăng vỡ trên đỉnh trời

    Tại sao chúng ta sợ hãi?

    Câu hỏi làm tôi nổi giận

    Thèm một que diêm

    để châm lửa vào cánh rừng

    Sau khi đọc bài thơ trên của Thái Hạo, một người đọc không thể hoàn toàn dửng dưng như trước nữa, người ấy có những cảm xúc mới, ý nghĩ mới. Cũng vậy, truyền thống văn chương nâng đỡ một nhà thơ, và cùng lúc giam hãm nhà thơ ấy. Ngôn ngữ là lịch sử, là tiếng nói còn lại qua thời gian, va đập bởi nhiều thử thách, sống sót, thay đổi, và đi tìm hướng đi mới. Một bài thơ bao giờ cũng cần được viết từ cách nhìn ấy, là những bài thơ khác viết lại, là sự thay thế, và hiểu lầm, làm mới và làm mới lần nữa. Một bài thơ hay ở lại với chúng ta, dù với ngôn ngữ thô ráp hay thanh nhã, trữ tình hay phản kháng.

    Trong vườn mùa thu

    cỏ dại mọc đầy

    lời của tháng tám

    xanh rì

    dáng bố ngồi như đá trăm năm

    Ta đến phương Nam một ngày mùa đông

    chuông giáo đường đổ liên hồi trong trời thẳm

    thấm thoát

    tuổi ba mươi

    Thơ Thái Hạo chỉ ra sự khác biệt giữa các cá nhân, đi tìm sự nối kết giữa họ. Thơ ấy làm phong phú trí tưởng tượng, tăng cường suy nghĩ bằng hình ảnh. Đó là một loại thơ đòi hỏi chú ý. Khi bạn chú ý, thời gian dừng lại, không gian sâu rộng hơn, mở ra sự thật. Sự thật trong thơ là điều chúng ta đi tìm, nhưng đó là một sự thật có tính biểu tượng. Sự thật của thơ nằm trong ngôn ngữ của nó. Thơ Thái Hạo không mạnh về tính âm nhạc, hầu hết là thơ tự do, một tình hình phổ biến hôm nay. Nhịp điệu của thơ anh không du dương êm ái, nhưng khi bạn đọc kỹ, bên dưới các chữ có một dòng chảy.

    Tôi ngồi trong tiếng kèn đêm

    thổi linh hồn một thiếu niên

    vừa đi qua cuộc đời

    trên đất nước tôi

    Tiếng kèn buốt vào đêm đông

    sừng sững

    tội ác

    và nhục hình

    đòn roi

    quất vào tuổi thơ

    Tôi muốn viết một bài thơ thật đẹp về con người

    nhưng con người đã chết

    Bài hát và tiếng khóc đêm tối, tiếng kêu của thiên nhiên thời tiết. Trong thơ anh, một điều gì đang mất đi, một điều gì sẽ mất. Xưa nay trong lịch sử, các nhà độc tài bao giờ cũng có quan hệ căng thẳng bất thường đối với giới nghệ thuật: hoặc thù địch hoặc lợi dụng họ. Nhưng văn học là các diễn ngôn bên lề. Văn học không tham dự vào đời sống, không yêu sách, không ra lệnh, không kêu gọi, không hướng về đám đông tuân phục. Văn học là tiếng nói của từng cá nhân, từ bên trong và đến với bên trong. Thơ trữ tình càng thế. Thơ mang lại những kinh nghiệm tươi mới, cụ thể, thay đổi theo tình cảnh con người. Chúng ta biết rằng không có những tình cảm tuyệt đối phổ quát, không có lòng yêu thương chung chung, mà những tình cảm ấy, những nhận thức ấy bao giờ cũng được đặt vào một hoàn cảnh riêng biệt, một môi trường văn hóa và chính trị cụ thể. Đọc thơ can dự vào việc tạo ra những xúc cảm căng thẳng và lành mạnh, như thế. Ngôn ngữ thơ không có tính đại cương, chúng mang lại cảm giác về cái riêng biệt, mặc dù văn chương vốn là sản phẩm của trí tưởng tượng.

    Tôi thấy mình và những linh hồn thành cơn bão

    cuồng nộ

    quét sạch bạo chúa

    quét sạch tham tàn

    quét sạch những loài quỷ man di

    tôi xé tôi thành ngàn mảnh

    như những mảnh gươm

    băm nát những sợi xích khổng lồ cắn vào da thịt

    băm nát những chiếc loa trên cột điện dối trá

    Tôi làm cơn mưa rừng

    rửa sạch thân thể quê hương lấm lem

    rửa sạch hồn người khổ đau

    rửa sạch thế kỷ bịp bợp

    rửa sạch những giọt nước mắt

    cho mi xanh lại

    cho mắt em trong vắt một sớm mùa thu

    Những linh hồn cùng tôi thổi một cuồng phong

    cho da thịt lành lại

    cho vỡ nát ngục tù

    đập tan những ngai vàng

    dành lại những lâu đài lãnh chúa

    cho em bé làm trường

    cho thiên chúa phục sinh

    cho thần tự do cầm đuốc trong lòng Hà Nội

    một Hà Nội tôi đã gặp em

    trong những câu hát phố cổ

    những câu hát hồ Tây

    Đó là anh viết về tự do. Có nhiều bài thơ đặt người đọc trước những tình cảnh bi phẫn, mang họ đến chân tường. Những bài thơ như thế làm người đọc bối rối, tranh cãi, và làm thay đổi nhận thức của họ. Thơ Thái Hạo là một loại thơ hiện đại, có yếu tố hậu hiện đại, được viết dưới ánh sáng của kiến thức, lương tâm, phán xét xã hội. Thơ tự do, nhưng nhiều câu thơ ẩn chứa một nhạc điệu nhanh, mà nhẫn nại. Niềm vui của văn bản là giây phút khi ý tưởng, xúc động, thân xác hòa làm một dưới tác động của nhịp điệu. Đôi khi chúng ta muốn đi theo một con đường, nhưng nghệ thuật thay đổi hướng.

    lời kinh lẫn trong đá

    trong cỏ

    trong những vì sao rụng mỗi đêm

    Bố ngồi bên bờ núi

    vách đá sừng sững

    mưa và sương muối

    Anh giữ cho mình trạng thái cô độc, độc lập, không lôi kéo sự chú ý của người khác, khiêm tốn và kiêu hãnh theo đuổi đến cùng xúc cảm của riêng mình. Anh đi theo những con đường ấy, một mình, vừa rời bỏ xã hội như một kẻ từng cô lập, vừa trở lại với xã hội như người làm chứng, như nạn nhân, đôi khi như kẻ đưa tin.

    Tôi về

    Trăng trong vắt dưới đáy giếng

    Nơi con cá rô tôi thả năm xưa

    Gầy khô

    Chỉ có chiếc đầu là to vĩ đại gắn trên cái thân bé tí

    Thơ Thái Hạo có những giây phút đẫm vị thiền, tan rã, hư vô, như tiếng chuông. Đó là một loại thơ trữ tình – viễn kiến, xuyên thấu kiến thức, làm cho tình trạng trữ tình của sự vật được chiếu lên bề mặt ý thức. Tuy vậy thơ anh không phải là một tuyên ngôn. Nhiều hơn, đó là một tình cảm được ẩn giấu như những ngọn núi sau mây. Đọc Thái Hạo, một người đọc có thể tìm cách nhìn thấy phía sau các chữ khá mới của anh, sự u sầu lãng mạn gần với cổ điển, sự hoang dại, nỗi buồn bất tận kiếp người.

    tôi đi vào thành phố. không thấy bóng con người

    những chùm hoa móng rồng đỏ

    treo như những cái móc sắt nung

    trong ngày đầu tháng 7

    mưa xám

    tôi tìm một cái gốc cây và ngồi xuống bên cạnh những ông địa

    lẫn với Chúa

    Phật. Bồ Tát

    Và những ông thần tài

    lô xô đứng

    ngồi

    nằm

    gió thổi vào bộng cây ú ớ

    những chùm móng rồng đỏ. cháy rực trong mưa

    phố không bóng người

    chỉ có những chiếc nón lá và những chiếc ô rách

    gió thổi bay tung trên đường cái

    tôi dựng dậy những pho tượng

    thủa bé

    đồ hàng

    cho tượng cưới nhau

    Một bài thơ có nhiều cách đọc, nhiều góc nhìn, tự nó là một văn bản mở, bao giờ cũng vậy, nhưng ở Thái Hạo văn bản ấy rất mở. Không phải chỉ có những câu thơ hiển lộ, các hình ảnh rõ ràng, mà còn đằng sau những chữ ấy sự phản ứng đầy hài hước của một người nhiều xúc cảm. Thách thức, chế nhạo, châm biếm xuất hiện ngày một nhiều. Sự kết hợp giữa giọng điệu hài hước và tính u sầu là một trong những kết hợp kỳ lạ của thơ anh.

    Đái vọt xuống hồ sâu

    Trăng vỡ

    Tiếng ếch rộ lên

    Nhạc trời hổn hển

    Ái ân rền trên nước

    Đao Lợi một cõi mênh mông

    Thu về trú xứ miền hồng trần ai

    Khác với hài hước cổ điển, hướng về người khác, hài hước đương đại hướng về chính mình. Anh giữ được thăng bằng giữa chủ quan của người nghệ sĩ và cách nhìn sự vật khách quan giàu triết học. Thơ Thái Hạo là một thứ thơ nhân chứng. Những bài thơ xuất hiện gần đây của anh đều cho thấy một bút pháp ổn định, về hướng ấy, và ít thay đổi, một cảm giác về tính đối thoại. Giọng của anh có khi sôi nổi, nhiệt tình nhưng phần lớn là tỉnh táo, gần như lãnh đạm, đó là một giọng thích hợp cho loại thơ nhiều suy tư hàm chứa các dữ kiện. Chúng ta đánh mất niềm tin. Con người đánh mất văn hóa, đất nước đánh mất tài nguyên. Chúng ta đau xót và phẫn nộ, trong khi ấy họ vẫn phải sống, vẫn phải yêu thương, vẫn phải hy vọng. Không ai biết khi nào thì ánh sáng sẽ tới. Không ai biết ánh sáng tới bằng cách nào. Nhưng chúng ta biết khi nhìn thấy nó.

    Tôi ngồi nhớ Phật

    người đàn ông khổ hạnh

    đã khóc nhiều ngày trên núi

    tuyết trắng lồng lộng

    chàng băng qua rừng sâu

    qua vách đá

    băng qua những cái chết

    u mê hun hút

    trần gian

    đá dựng

    Chàng lội qua sông

    bên kia là những đám lửa

    Người làm thơ sáng tạo để sống cùng ngôn ngữ, chứ không phải để kiểm soát chúng, hay sử dụng chúng như phương tiện. Thơ nhân chứng hôm nay không phải chỉ là sự tố cáo mà còn là sự ghi chép lại, làm cân bằng một lịch sử hỗn loạn bị bôi xoá, không phải để chờ ngày phán xét cuối cùng, mà để độc giả phán xét trên từng trang giấy.

    Một người đọc thực sự của thơ bao giờ cũng là người lắng nghe các chữ. Trong phép đọc nhanh, người đọc không lắng nghe, họ chỉ dự đoán nghĩa, như khi ta đọc một tường trình nghiên cứu, một bài báo. Đọc thơ bao giờ cũng là đọc chậm, vì người đọc lắng nghe bằng tai nhiều hơn nhìn bằng mắt. Thơ hiện nay ngày càng nghiêng về huynh hướng thứ hai, tính âm nhạc bị ruồng bỏ, và đó là điều đáng tiếc. Thái Hạo cũng không tránh được điều ấy, mặc dù trong nhiều bài, nhịp điệu của câu thơ của anh vẫn hấp dẫn tôi.

    Ngồi lõm một vùng đêm

    Ếch kêu vỡ giọng

    Gọi mưa

    Ve rũ xác tìm sương

    Trên lá khô giòn rụm

    Ta đun trà cho duỗi những búp nâu

    Xanh lại lòng chén

    Rạn men

    Tiếng em như mưa giọt trên lá

    Rửa bụi ngày

    Xanh mướt bờ chiêm bao

    Tất cả các câu đều mới, trừ câu cuối. Bài thơ có giọng tình tự, đằm thắm. Tôi cũng muốn thấy nhiều hơn trong thơ anh những câu chuyện về tuổi ấu thơ, về tình yêu, ngôi nhà, chuyện riêng tư, hoài niệm. Tôi yêu mến kích thước con người ở các nhà thơ trữ tình cũng như yêu mến kích thước xã hội ở họ, và sự kết hợp giữa hai tiếng nói là một kết hợp khó khăn, nhiều khi rất khó khăn. Tôi muốn được nhìn thấy nhiều hơn vẻ đẹp huyền bí, tính bất định, niềm vui của sự mất thăng bằng trong thơ anh.

    Những linh hồn cùng tôi thổi một cuồng phong

    cho da thịt lành lại

    cho vỡ nát ngục tù

    đập tan những ngai vàng

    dành lại những lâu đài lãnh chúa

    cho em bé làm trường

    cho thiên chúa phục sinh

    cho thần tự do cầm đuốc trong lòng Hà Nội

    một Hà Nội tôi đã gặp em

    trong những câu hát phố cổ

    Tâm hồn hôm nay tìm thấy trong thơ ấy khuôn mặt của mình, những lo âu, thương xót. Như một người đọc, tôi cảm thấy tin vào tiếng nói ấy, muốn đi theo cùng anh trong những đổ vỡ ấy, nguyền rủa, trong những hy vọng ấy, tự tin và dịu dàng, ở Hà Nội, mặc dù không phải không có lúc cực đoan, hay, và, im lặng. Thơ hiện nay, tôi nghĩ, cần nhiều hơn nữa những tiếng nói như vậy. Yếu tố hài hước và châm biếm ở anh cũng khá uyển chuyển. Anh giữ được thăng bằng khôn ngoan giữa việc tiết kiệm chữ và phóng túng rời rạc, những mối liên kết ngắt đoạn, đặc trưng của thơ đương đại. Đây là lúc mà nhà thơ chúng ta cần nói lớn lên, ca ngợi lòng dũng cảm, ca ngợi sự cam kết, chống lại thói ích kỷ. Thơ cần trực tiếp, biểu hiện các ý tưởng về đời sống, phát hiện những nhầm lẫn của con người, tội ác của họ. Một số nhà thơ hôm nay bắt đầu dành được độc giả vì sau một giai đoạn tìm đường, thậm chí phá phách, họ tìm thấy các mối quan hệ cộng đồng, thước đo dành cho cái mới.

    Những nổi loạn chưa trưởng thành sẽ không đóng góp nhiều cho công việc của thơ ca: đập vỡ cái cũ, các khuôn phép của giới thống trị. Nhà thơ Canada Nicole Brossard nhấn mạnh đến sự gặp gỡ của cái tôi và cái ta, như những giây phút đặc biệt, hiếm hoi, trong thơ chính trị đương thời. Trong giây phút ấy, giấc mơ trong mỗi người tìm lại được những giá trị tốt đẹp của cộng đồng.Thơ là hình thức tinh hoa bậc nhất của một ngôn ngữ, vận động trên những quy ước. Dựa trên những quy ước ấy, nhà thơ mô tả trạng thái tinh thần và tâm lý năng động nhất, tinh tế nhất của dân tộc mình. Những bài thơ hay tăng cường sự hiểu biết xã hội, văn hóa, mở rộng cánh cửa cho tâm trí. Vì thế, đối với tôi, mỗi bài thơ phải mở được một cánh cửa, chỉ ra được một thay đổi. Sự mô tả trong thơ phải cô độc, đầy năng lượng, vượt qua lối nói trừu tượng dễ dãi, xoay quanh các hình ảnh, dẫn tới gợi ý. Trong một số bài thơ, Thái Hạo đạt được, hoặc gần như đạt được, một ngôn ngữ như vậy.

    Khi một kẻ nói yêu

    ghét

    đó là lẽ thường

    là đạo của tự nhiên

    anh ta chỉ đang làm người –

    một người bình thường

    nhưng ở đất nước này

    bạn bè tôi không dám nói điều ấy

    nỗi sợ hãi của họ là nỗi sợ làm người

    một giống dân lấy sự hèn hạ làm khôn ngoan

    chúng ta bị đày ra khỏi ngôi nhà của mình

    và đi lang thang như những con chuột

    trên nghĩa địa

    trăng mờ

    ta sợ sự khôn ngoan của các người

    Xã hội ngày càng hung hãn. Càng hung hãn càng hoảng loạn, càng hoảng loạn càng tàn phá. Thực ra xã hội mấy mươi năm nay bao giờ cũng hoảng loạn. Trước tình cảnh ấy, thơ là tự do tư tưởng. Thơ đứng về phía những người bị áp bức, đứng về phía những người không có vũ khí trong tay, về phía một thiên nhiên đang bị phá hủy, một nền văn hóa bị bôi xóa, đứng về phía không có tiếng nói.

    Thơ là tiếng nói ấy của họ.

    Người đọc chờ nghe tiếng nói của nhà thơ, giúp cho họ nhận thức mình và người khác rõ hơn, tìm đến nhau, để một giây phút tạm bợ được soi sáng, một tồn tại cá nhân trở thành có ý nghĩa lớn hơn cá nhân ấy, để khoảnh khắc trần gian của chúng ta được thực sống mà nhớ lại. 

    http://vanviet.info/nghien…/thi-hao-tieng-ni-moi-vang-ren/