1) Công Khố Phiếu (US Treasury Bond) là gì
Công khố phiếu là một loại giấy nợ của (ngân khố) chính phủ. Thí dụ, chính phủ muốn mượn $100, chính phủ viết một tờ giấy nợ có mệnh giá $100 rồi rao bán. Một người bỏ ra $95 mua giấy này. Một năm sau mang giấy nợ này ra ngân khố lấy lại $100. Nghĩa là, cho chính phủ mượn $95, khi đáo hạn được trả $100, tính ra tiền lời %5 trong 1 năm. Nhưng có một người khác đang cầm một giấy nợ như vậy muốn bán $90 thôi, thế là tiền lời tính ra là 10%. Vì thế, giá trị xuống thì tiền lời lên.
Khi cho vay, người cho vay đánh cược với uy tín của người mượn. Người mượn có uy tín thì không phải trả tiền lời nhiều. Uy tín thấp thì phải trả lời nhiều hơn. Xưa nay, nước Mỹ thuộc loại uy tín cao, nên tiền lời công khố phiếu thấp. Mỗi lần chính phủ rao báo công khố phiếu là người ta xếp hàng mua vì cho Mỹ mượn tiền là an toàn nhất.
Có 4 loại khách hàng (hay chủ nợ) mua công khố phiếu:
a) Chính phủ và ngân hàng trung ương nước ngoài. Nhóm này ôm hơn $9 ngàn tỉ công khố phiếu, gồm các nước như Nhật, Trung Quốc, Anh Quốc, Canada, Belgium, v.v… Nhiều nhất là Nhật với $1.2 ngàn tỉ (trillion). Sau đó là Anh Quốc với $900 tỉ (billion), Trung Quốc với $700 tỉ.
b) Ngân hàng và các công ty đầu tư (institutional investors) ở Mỹ. Nhóm này gồm có các nhà bank, các công ty đầu tư như Vanguard, Fidelity, v.v.., các hãng bảo hiểm (insurance), quỹ hưu trí, v.v…
c) Người dân Mỹ cũng cho chính phủ Mỹ mượn bằng cách mua bonds trực tiếp hay gián tiếp qua các mutual fund, ETF, money market, v.v…
d) Nhưng nhiều nhất ở Mỹ là ngân hàng trung ương, the Federal Reserve (Fed). Fed đang có $6.7 ngàn tỉ (trillion) các loại công khố phiếu (ngắn hạn và dài hạn). Từ nhiều năm nay, mỗi lần kinh tế khó khăn, Fed nghĩ ra cách bơm tiền vào nền kinh tế bằng cách in tiền giấy rồi lấy tiền đó mua công khố phiếu của ngân khố. Fed đặt cho cách này một cái tên mỹ miều là “Quantitative Easing” hay QE. Khi hết khó khăn thì họ thu tiền lại bằng cách bán những công khố phiếu này ra, và họ gọi là “Quantitative Tightening” hay QT. Nhưng mỗi lần nhấp nháy tính thu tiền lại thì thị trường chứng khoán xuống, kinh tế ngất ngư. Vì thế càng ngày Fed càng ôm nhiều công khố phiếu. Fed gọi khoảng tiền này là “balance sheet”.
2) Tại sao tiền lời (bond yield) công khố phiếu lên
Có nhiều yếu tố làm cho tiền lời của công phố phiếu tăng nhưng tựu chung là nhiều người bán, ít người mua làm cho giá công khố phiếu bị giảm. Vì sao?
Thứ nhất, nước Mỹ nợ nhiều quá và càng ngày càng tăng. Bắt đầu từ tháng 3 năm 2026, nợ công là $39 ngàn tỉ (trillion) và mỗi tháng mượn thêm $200 tỉ vì thâm hụt ngân sách. Tín dụng của Mỹ giảm, đang ở “Aaa” bị Moody đánh giá xuống còn “Aa1”. Tín dụng giảm thì phải trả tiền lời nhiều hơn. Nhưng nguy hơn nữa là mỗi năm phải chi ra hơn $1 ngàn tỉ (trillion) để trả tiền lời cho những món nợ đã có.
Thứ hai, vật giá leo thang (lạm phát), dân Mỹ cần tiền để trang trải các thứ khác (như mua xăng) trước khi mua công khố phiếu.
Thứ ba, các nước trên thế giới cũng cần tiền, như ở Nhật cũng đang bị khủng hoảng, đồng Yen mất giá, công khố phiếu của Nhật cũng bị mất giá. Nhật cần tiền nên phải đòi nợ Mỹ (bằng cách bán công khố phiếu). Kinh tế Trung Quốc cũng không khá gì. Đã thế còn còn chiến tranh thương mại. Lúc trước, Trung Quốc cầm hơn 1 ngàn tỉ (trillion) công khố phiếu, nay đã bán dần chỉ còn chưa tới $700 tỉ (billion).
Thứ tư, Fed có ông xếp mới, Kevin Warsh. Các tay đầu tư lớn dọn đường để đợi ông Fed mới tung chưởng. Ông Warsh có ý định muốn giảm “balance sheet”, nghĩa là bán bớt số $6.7 trillion bonds mà Fed đang giữ. Nếu Fed sắp bán rất nhiều thì mình nên bán trước để được giá.
3) Hậu quả của high bond yield
Bond yield lên cao ảnh hưởng trực tiếp lên người dân vì các loại lãi suất dài hạn được định giá bằng 10-year bond yield. Nghĩa là, bond yield lên thì tiền lời mua xe, mua nhà lên theo. Tiền lời lên thì nhà không bán được vì tiền trả hàng tháng tăng, người mua không kham nổi. Doanh nghiệp cũng khựng lại vì không thể mượn vốn để đầu tư. Mọi thứ sẽ chậm lại.
Trong khi đó, nếu bond yield cứ tiếp tục tăng, thì một lúc nào đó đầu tư vào bond có lợi hơn đầu tư vào stock vì ít rủi ro hơn. Người ta sẽ bán stocks, lấy tiền mua bonds làm cho thị trường chứng khoán mất giá.
Nhưng tại hại nhất là uy tín của Mỹ mất giá. Điều này có nghĩa là người ta sẽ đắn đo hơn khi đầu tư vào Mỹ. Tiền ở trong nước Mỹ sẽ chạy ra ngoài. Người ta sẽ đầu tư ở Trung Quốc hay Canada ít rủi ro hơn.
Những phản ứng này dây chuyền và đồng loạt. Nghĩa là, khi bắt đầu thì rất chậm nhưng tăng tốc rất nhanh. Nếu tất cả đều bỏ chạy khỏi thị trường chứng khoán (hay thị trường bond) thì sẽ tạo ra một khủng hoảng lớn (market crash).






































