Hỏi đáp xung quanh cuộc chiến tranh Nga – Ukraine (Phần 2)

0
6
Ảnh: Bản đồ Nga xâm lược Ukraina những giờ đầu tiên của ngày 24/2/2022, ngày đầu tiên Nga tấn công Ukraine. Nguồn: Sky News

Tiếng Dân

Đào Tiến Thi

14-5-2022

Tiếp theo phần 1

Câu hỏi 6: Có phải chính phủ của Tổng thống Zelensky không khôn khéo, đã dại dột “hướng Tây” chứ không chịu “hướng Đông” (theo Nga), nên rước chiến tranh về?

Trả lời: Trước khi trả lời câu này xin quý vị đọc lại các câu hỏi và trả lời 3, 4 và 5. Vì vấn đề thực chất đã đề cập một phần khi trả lời các câu 3, 4 và 5. Xin tóm tắt ý và nhấn mạnh thêm một chút: Việc “hướng Tây” không những là quyền của người Ukraine mà còn là xu thế tất yếu, nếu muốn đất nước phát triển. Có thể nói lịch sử các nước chậm phát triển trong khoảng hai trăm năm qua là lịch sử “hướng Tây”. Nước nào “hướng Tây” sớm và mạnh thì nước ấy phát triển sớm và nhanh. Nhật Bản là một ví dụ. Cụ Phan Bội Châu buổi đầu tìm đường cứu nước đã “hướng Đông” (Đông du) nhưng thực chất cũng là “hướng Tây” một cách gián tiếp. Chính Việt Nam hiện nay cũng ngày càng “hướng Tây” một cách mạnh mẽ.

Bây giờ xin trở lại nội dung chính của câu trả lời: Trong quan hệ với nước lớn, khôn khéo là giải pháp, còn độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ là nguyên tắc. Giải pháp phải phục tùng nguyên tắc.

Nói về khôn khéo, hỏi ai hơn Chủ tịch Hồ Chí Minh những năm 1945 –1946? Trước các thế lực thực dân hung hăng, Hồ Chí Minh đã tìm mọi đường “lùi”, nhưng “lùi” có giới hạn, chứ không phải vô điều kiện. Quá giới hạn sẽ thành đầu hàng, bán nước. Có thể tóm tắt quá trình từ nhân nhượng đến tuyên chiến của Hồ Chí Minh hồi ấy như sau:

Tháng 8/1945, thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, nhà nước Việt Nam mới hầu như không có gì trong tay, cụ Hồ đành phải “đánh đu” với các thế lực ngoại xâm: quân Pháp (và sau quân Pháp có quân Anh, Nhật) từ Nam đánh ra và quân Trung Quốc (Tưởng Giới Thạch) từ phía Bắc tràn xuống. Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào Nam Bộ (26/9/1945) “Thà chết tự do còn hơn sống nô lệ” nhưng đồng thời cũng đề nghị ngừng bắn, và cũng tạo được một cuộc ngừng bắn kéo dài được nửa tháng nhưng bị mang tiếng với nhân dân là “Chính phủ Việt Minh chạy trốn”.

Quân Pháp đánh ra Nam Trung Bộ và chuẩn bị ra Bắc Bộ. Hồ Chí Minh ký với Pháp Hiệp định sơ bộ (6/3/1946) cho phép quân đội Pháp vào Bắc Bộ thay quân Trung Hoa. Mục đích chính là đẩy 20 vạn quân Trung Hoa về nước và kéo dài thời gian chuẩn bị cho ta. Tuy nhiên việc này cũng đồng thời phải chấp nhận điều nguy hiểm khi cho phép Pháp đóng quân ở một số nơi từ vĩ tuyến 16 trở ra. Đương thời, một số nhà phân tích đã dự báo Pháp có thể dùng kịch bản từ một chỗ đóng quân lấn chiếm ra xung quanh, sau đó biến một cuộc hành quân thành một cuộc đảo chính.

Hội nghị trù bị Đà Lạt (4/1946) thất bại vì đòi hỏi phi lý của Pháp, sau đó Pháp còn ngang nhiên lập nước Cộng hòa Nam Kỳ Tự trị, 1/6/1946 (có khác gì ngày nay Nga xui phiến quân Donbass nổi dậy sau đó công nhận hai nước cộng hòa Luhansk và Donetsk). Tại Hội nghị Fontaineurbleu, Pháp tiếp tục lập trường cứng rắn, đặc biệt tiếp tục vi phạm Tạm ước 6/3/1946 (Đánh chiếm Phủ Toàn Quyền và mở rộng đánh chiếm Tây Nguyên). Cố gắng thương lượng cuối cùng của Hồ Chí Minh là ký Tạm ước 14/9/1946. Theo Tạm ước, vấn đề Nam Bộ sẽ được “trưng cầu dân ý”.

Từ cuối tháng 12/1946, quân Pháp càng ra sức khiêu khích, và cuối cùng, sáng 19/12/1946, Pháp gửi tối hậu thư đòi tước vũ khí của tự vệ Hà Nội.

Vì vậy đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ (…) Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước“.

Rõ ràng, Hồ Chí Minh đã phát động cả một cuộc chiến tranh lớn, huy động cả dân tộc Việt Nam chống lại cuộc xâm lược của thực dân Pháp.

Câu hỏi 7: Có người nói đây không phải là cuộc chiến giữa Nga và Ukraine mà là cuộc chiến giữa Nga và NATO, có phải vậy không?

Trả lời: Có một phần đúng. Như ta thấy những gì đã và đang diễn ra, đằng sau Ukraine là sự trợ giúp đắc lực của cả châu Âu chứ không chỉ NATO. Nhưng nhớ là chỉ một một phần đúng thôi. NATO vẫn có những mục đích riêng, nhưng có phần cơ bản “trùng khít” với Ukraine. Như câu 3 đã khẳng định, cuộc kháng chiến của Ukraine là chính nghĩa, người Ukraine trước hết bảo vệ độc lập tự do của mình, nhưng đó cũng là những giá trị chung của châu Âu. Và không chỉ châu Âu mà còn là các giá trị chung của nhân loại.

Chúng tôi lại thấy cần nhắc lại ở đây một ý đã trả lời ở câu 3 bài trước: Trong Tuyên ngôn độc lập (2/9/1945), sau khi trích dẫn Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ (“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng…”), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Dân tộc Ukraine đang bảo vệ các quyền con người và quyền dân tộc tự quyết. Cuộc chiến đấu của dân tộc Ukraine chống xâm lược Nga hiện nay là cuộc chiến giữa công lý, tự do với áp bức và bạo tàn. Ukraine thắng là lương tri thời đại thắng.

Sự trợ giúp của NATO có thể để lại cho Ukraine những hệ lụy nhất định, nhưng trong tình thế bị Nga, một nước lớn, có kho vũ khí đồ sộ và hiện đại vào hạng nhất thế giới, bất ngờ tấn công, thì Ukraine không có một sự lựa chọn nào khác, nếu muốn giữ độc lập. Nhưng đây cũng là cơ hội “thoát Nga”, dù phải trả giá đắt. Nếu sau này, chẳng hạn bị NATO “o ép” thì cũng vẫn tốt hơn sống dưới nanh vuốt của Nga, vì như trên đã phân tích, về cơ bản phương Tây ngày nay vẫn là một thế giới văn minh, tiến bộ mà đến nay nhân loại chưa có một mô hình nào thay thế được.

Câu hỏi 8: NATO và châu Âu có sai lầm gì không?

Trả lời: Có. Trước hết, NATO và châu Âu đã chủ quan, không tính hết sự phản ứng của Nga khiến Ukraine chịu hậu quả hết sức nặng nề.

Trong cuốn sách “Những tù nhân của địa lý”, ký giả người Anh Tim Marshall, người có 25 năm nghiên cứu địa chính trị, đã phân tích khá sâu sắc tính đặc thù về chính trị của Nga hiện nay trong tương quan với địa lý và truyền thống đế quốc của mình. Tim cho rằng, vùng trung tâm của Nga (Moskva) là một vùng đồng bằng trống trải, có thể bị tiến công từ bốn phía. Tuy nhiên, sự tấn công từ phía đông rất ít, trong lịch sử, Nga chỉ một lần từ người Mông Cổ, và từ khi đế quốc Nga bành trướng qua dãy Ural sang tận Sibir thì mối đe dọa từ phía đông coi như không có. Cho nên từ thế kỷ XVIII, các Sa hoàng “luôn nhìn về hướng tây”, họ chiếm lấy các nước vùng Baltik và Ukraine để làm “vành đai an toàn”. Thời Liên Xô, theo Tim, cũng chỉ là đế quốc Nga mà thôi, rồi sau khi Liên Xô tan vỡ thì nước Nga “co rút về hình dạng của thời kỳ tiền cộng sản, với biên giới phía châu Âu kết thúc ở Estonia, Latvia, Belarrus, Ukraine, Georgia và Azerbaijan“.

Nhìn chung, Tim muốn NATO và châu Âu không nên coi thường truyền thống độc tài và đế quốc của Nga. Tim viết: “Hoa Kỳ và châu Âu nóng lòng chào đón Ukraine nhập vào thế giới dân chủ với tư cách là thành viên chính thức của các thiết chế tự do và pháp quyền của mình, và Moskva không thể làm gì để chống lại điều đó. Đó là quan điểm không tính đến thực tế rằng địa chính trị vẫn tồn tại trong thế kỷ XXI và Nga không chơi trò pháp quyền“.

Như vậy có thể nói lỗi thứ nhất của NATO và châu Âu là chào đón Ukraine  gia nhập thế giới dân chủ với tư cách là thành viên chính thức của các thiết chế tự do và pháp quyền nhưng lại không tạo điều kiện đầy đủ để Ukraine  đảm bảo việc đó.

Với “Bản ghi nhớ Budapest” ngày 5/12/1994, Mỹ, Nga, Ukraine, Anh đã thỏa thuận bảo đảm an ninh cho Ukraine nếu Ukraine từ bỏ kho vũ khí hạt nhân từ thời Lên Xô. Từ khi ký Bản ghi nhớ Budapest, Ukraine đã đáp ứng các nghĩa vụ bằng cách chuyển giao kho vũ khí lớn thứ ba thế giới đó, cho đến khi “tay không” thì bị Nga tấn công.

Một bản ghi nhớ như thế về mặt pháp lý chưa đủ mạnh để đảm bảo cho hòa bình Ukraine. Lẽ ra, ít nhất phải là một hiệp ước giữa NATO, Ukraine và Nga, có những điều kiện ràng buộc rõ ràng một khi Ukraine bị đe dọa từ bất cứ phía nào. Và như ta thấy, Nga đã lợi dụng sự lỏng lẻo này mà ngang nhiên đánh chiếm bán đảo Crime của Ukraine (2014). Ukraine thành nạn nhân đáng thương.

Thứ hai, NATO đã nhu nhược một thời gian dài với Nga.

Với việc đánh chiếm bán đảo Crime, liền đó xúi giục phiến quân vùng Donbass nổi dậy thành lập hai nước cộng hòa Luhansk và Donetsk (rồi Nga công nhận hai nước cộng hòa này), Nga thực sự đã đánh vỗ mặt NATO, thế mà NATO vẫn chỉ có một số hành động trừng phạt cục bộ. Một nước Mỹ (thời TT Trump) ích kỷ và một châu Âu nhu nhược và không thống nhất hành động, một thái độ gần như đứng ngoài của Đức (nước lớn nhất trong thế giới phương Tây ở châu Âu), đã tạo điều kiện cho tham vọng của Nga, kích thích sự hung hăng của Nga. “Cái tường thấp mời gọi kẻ trộm” (tục ngữ Anh), và cái gì đến đã phải đến, Nga đã huy động tổng lực tấn công Ukraine vào ngày 24/2/2022. Lần thứ hai, Ukraine thành nạn nhân đáng thương gấp bội lần thứ nhất.

Câu hỏi 9: Việt Nam học được gì qua cuộc chiến Nga – Ukraine?

Trả lời: Việt Nam từ mấy chục năm nay cũng rơi vào tình thế bị đe dọa bởi một nước lớn láng giềng. Có rất nhiều điều học được qua cuộc chiến này. Tuy nhiên ở đây chỉ xin nêu ba điểm căn bản.

1. Ban đầu bị Nga tấn công, Ukraine rơi vào tình cảnh khá đơn độc, chỉ có Ba Lan và mấy nước nhỏ vùng Baltik trợ giúp tích cực. Nếu nhân dân Ukraine và TT. Zelensky không dũng cảm đương đầu với cuộc tấn công ồ ạt của Nga thì Ukraine đã nằm dưới gót giày của quân Nga chỉ sau nhiều nhất một tuần. Sức mạnh từ lòng yêu nước và ý chí bất khuất của người Ukraine nằm ngoài tất cả dự kiến của Nga lẫn phương Tây. Như vậy, nắm được lẽ phải, tin chắc ở lẽ phải, tự lực cánh sinh, cứu mình trước khi trời cứu, đó là yếu tố hàng đầu.

2. Tuy nhiên, nếu rơi vào cảnh bị xâm lược thì tự lực cánh sinh vẫn chưa đủ. Để kháng chiến lâu dài và chiến thắng không thể thiếu sự trợ giúp quốc tế. Ukraine hiện nay là như thế và Việt Nam trong quá khứ cũng đã từng như thế. Chỉ trong hơn hai tháng qua, ta thấy Ukraine càng đánh càng mạnh, trái lại, Nga càng đánh càng sa lầy. Là vì đằng sau Ukraine là châu Âu, và nhìn chung là cả nhân loại tiến bộ, trong đó có cả nhân dân Nga. Còn đằng sau tập đoàn hiếu chiến Nga đứng đầu là Putin, hầu như chẳng có ai, kể cả Trung Quốc.

3. Có những ý kiến nói tại sao Ukraine không chọn vị trí trung lập. Thực ra hiểu như thế là hết sức ấu trĩ, cho nên chúng tôi thấy cần làm rõ hai khái niệm “trung lập” và “liên minh”.

“Trung lập” theo nghĩa đen là “đứng giữa”, trong quan hệ quốc tế thuật ngữ này dùng để chỉ những nước không tham gia các xung đột quân sự, không tham gia các liên minh quân sự. Tuy nhiên, trung lập không có nghĩa là không phản ứng gì trước mọi đúng sai, phải trái. Giống như ra đường thấy một kẻ cướp giật thì ta phải giúp người bị nạn chống lại, chí ít là tri hô lên, chứ không phải bình thản cứ thế mà đi.

Thời Việt Nam đang kháng chiến chống xâm lược, nhiều nước trung lập đã ủng hộ Việt Nam cả tinh thần lẫn vật chất. Ví dụ như thái độ của Thụy Điển (một nước được coi là trung lập) trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Trung Quốc của Việt Nam, tháng 2/1979. Hồi ấy, người viết bài này đã rất cảm động khi thấy những người dân Thụy Điển xuống đường biểu tình hô vang các khẩu hiệu chống Trung Quốc và ủng hộ Việt Nam.

Vị trí trung lập không phải muốn là được. Nhìn lại lịch sử Việt Nam, ta thấy có lẽ Việt Nam chưa bao giờ trung lập và khi đứng trước tình thế tồn vong của dân tộc, Việt Nam sẵn sàng tham gia vào các liên minh. Ví dụ, trước khi quân Mông Nguyên đánh Đại Việt lần thứ hai (1285), vua Nguyên hỏi mượn đường Đại Việt để hành quân tiến đánh Chiêm Thành và yêu cầu Đại Việt cung cấp lương thực nữa (về danh nghĩa lúc đó Đại Việt là chư hầu của nhà Nguyên). Nhưng nhà Trần đã từ chối cả hai yêu cầu này. Chưa kết, nhà Trần còn đem quân vào giúp Chiêm Thành kháng chiến. Thực sự lúc ấy đã hình thành Liên minh Việt – Chiêm và và liên minh này đã góp phần quan trọng cho chiến thắng của cả hai dân tộc. (Nên nhớ là trước đó, Việt – Chiêm luôn luôn xung đột)

Hồi đang xảy Thế chiến II, tổ chức Việt Minh (tên đầy đủ: Việt Nam Độc lập Đồng minh), tiền thân của Chính phủ Lâm thời Việt Nam hồi Cách mạng tháng Tám, đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ các nước Đồng minh chống phát xít, cụ thể là Việt Minh đánh phát xít Nhật đang chiếm đóng Đông Dương lúc đó. Và cũng ngay từ lúc đó, Việt Minh đã đặt vấn đề “Phải có một lực lượng thống nhất của tất thảy các dân tộc Đông Dương họp lại” (Nghị quyết Hội nghị Trung ương VIII của Đảng CSVN, 19/5/1941).

Trong quan hệ quốc tế, xưa cũng như nay, phải có những điều kiện nào đó mới có thể trung lập. Nhìn chung, chỉ có thể chọn vị trí trung lập khi không có nhiều mối đe dọa và các bên đối lập phải cam kết giữ trung lập cho quốc gia thứ ba, coi nước này như một ranh giới an toàn cho cả hai bên. Còn liên minh, khi cần có gì mà ngại, nhất là khi phải chống lại kẻ thù lớn mạnh hơn mình?