VÌ SAO GỌI LÀ HỒ TÂY ?

0
10
Hồ Tây

Mạnh Trí Dương

Hồ Tây ở phía bắc kinh thành Thăng Long vì sao không gọi là hồ Bắc mà lại gọi là hồ Tây ?

Truyền thuyết dân gian  kể rằng nơi đây ngày xưa là rừng rậm hoang vu và nhiều gò núi. Ở đó, có một con Hồ ly tinh chuyên tác oai tác quái quấy nhiễu đời sống dân lành. Nhưng việc diệt trừ Hồ ly tinh được kể trong các câu chuyện dân gian cũng khác  nhau. Một truyện cho rằng Lạc Long Quân vì thương xót con dân nên đã dâng nước biển dìm chết con cáo và tạo ra hồ nước. Một câu chuyện khác kể về thần Huyền Thiên Trấn Vũ cũng vì thương xót và nghe lời cầu khẩn của dân chúng mà diệt trừ con cáo. Việc diệt trừ xảy ra ác liệt, khi con cáo bị diệt xong đã tạo ra một hồ nước. Từ đó, hồ có tên là Đầm Xác Cáo.

Nguyễn Huy Lượng trong Tụng Tây Hồ phú có câu:

Trước bạch hồ nào ở đó làm hang,

Long vương hổ nên vùng đại trạch

là để nói về sự tích này.

Hồ Tây Cũng có tên khác là  hồ Trâu Vàng hay  Hồ Kim Ngưu, gắn với sự tích con trâu vàng. Song sự tích này được kể khác nhau. Một câu chuyện kể rằng con Kim ngưu khi nghe tiếng chuông của ông Khổng Lồ Minh Không ngỡ là tiếng trâu mẹ gọi, bèn chạy từ Trung Quốc sang đến bên quả chuông lớn. Nó cứ loay hoay tìm quanh quả chuông, rút cuộc làm đất lở khiến cả quả chuông và mình sụt xuống tạo thành một vực sâu. Về sau mưa làm ngập lụt tạo thành hồ, cả quả chuông lẫn con trâu vàng đều không vớt được.

Câu chuyện khác thì kể rằng ngày xưa ở Núi Tiên Du có con Trâu vàng bị một Pháp sư yểm bùa, vùng dậy chạy. Chạy mãi, chạy mãi qua mỗi nơi, bằng sức mạnh của mình, nó đều tạo ra các dấu tích. Cuối cùng nó chạy tới đầu Sông Tô gặp một hồ nước, nó nhao xuống bơi lội thỏa thích rồi ở luôn trong lòng như đứa con lưu lạc vừa tìm được mẹ. Từ đó, Hồ Tây có tên là Hồ Kim Ngưu và dân gian còn truyền tụng câu:

Trâu vàng ẩn mãi giữa hồ,

Nước dù cạn vẫn mịt mù tăm hơi.

Hồ Tây lại còn có tên là hồ Lãng Bạc

Theo Tây Hồ chí thì sau khi dập tắt cuộc khởi nghĩa bi hùng của Hai Bà Trưng, Tướng quân Mã Viện với tư cách là kẻ thôn tính văn hóa đã gọi Hồ Tây là Lãng Bạc với ý nghĩa hồ đầy sóng vỗ. Tên gọi này thể hiện ý nghĩa rõ nhất vào những ngày giông bão, mặt hồ rộng, sóng nước nổi lên ầm ầm, tạo ra một cảnh hồ hùng tráng và nên thơ.

Và còn có tên Hán là Dâm Đàm 淫曇( đầm sương mù ) Có lẽ ý nghĩa ấy muốn nói tới sự rộng lớn, mênh mang sóng nước của Hồ Tây. Tên gọi này cũng không biết chính xác được gọi trong thời gian nào, nhưng theo cố  GS. Trần Quốc Vượng thì Dâm Đàm có tên thật từ thời Lý – Trần (Thế kỷ X – XV) với huyền tích Lý Nhân Tông ngồi thuyền Mục Thận xem đánh cá, gặp sương mù, có thuyền tới gần, trên có hổ, Mục Thận quăng lưới bắt hổ, hóa ra đó là Thái sư Lê Văn Thịnh, và ông cho rằng Dâm Đàm nghĩa là Hồ mù sương.

Câu chuyện về vụ Thái sư Lê Văn Thịnh mưu hại Vua Lý Nhân Tông được các sách ghi chép khác nhau. Sách Việt điện u linh, Truyện Thái uý Trung duệ Vũ Lượng Công của Lý Tế Xuyên (Thế kỷ XIII) có đoạn viết: “Trong thời Lý Nhân Tông, quan Thái sư Lê Văn Thịnh nuôi được một tên gia nô người Đại Lý, có thuật lạ đọc thần chú biến được thành hổ báo. Lê Văn Thịnh cố dỗ dành tên gia nô dạy pháp thuật cho mình, sau khi học được rồi thì Văn Thịnh lập mưu giết chết tên gia nô và định dùng nó để hại Vua cướp ngôi”.

Vụ án Đâm Đàm này là một câu chuyện hoang đường, nó chỉ có thể là một màn nguỵ trang cho một sự tranh giành quyết liệt trong nội bộ triều đình nhà Lý vào cuối Thế kỷ XI và sự thất thế dẫn đến việc buộc phải ra đi của Lê Văn Thịnh. Hoặc giả, nó phản ánh về sự mâu thuẫn tôn giáo, tư tưởng xã hội của thời đại.

Lúc này, Nho giáo đang dần khẳng định vị trí của mình mà Lê Văn Thịnh là người khai khoa cho lịch sử khoa cử Nho giáo Việt Nam. Lê Văn Thịnh quê ở Bắc Ninh, ông đỗ đầu khoa Minh kinh bác học năm 1075, đời Lý Nhân Tông, ông từng làm chức Thị lang Bộ Binh.

Năm 1084, ông làm Chánh sứ đi sứ sang Tống, bằng tài ngoại giao, ông đòi lại được vùng đất Vật Dương, Vật ác (Cao Bằng) từ triều đình phương Bắc. Vì công lao của ông đối với triều chính, Lê Văn Thịnh được phong Thái sư năm 1096.

Sử sách không thấy ghi mâu thuẫn triều chính của Lê Văn Thịnh nên khi vụ án Dâm Đàm xảy ra, ông bị xích sắt đóng cũi và bị đày lên thượng nguồn Sông Thao nhưng không bị giết vì nhà Vua đã nghĩ đến công lao của ông.

Còn Mục Thận làm nghề chài lưới đánh bắt cá ở Dâm Đàm, nhờ có công cứu Vua Lý Nhân Tông nên được phong làm Đô uý và được ban đất quanh hồ làm thực ấp. Khi mất, ông được lập đền thờ ở Làng Võng Thị, truy phong tước Thái úy Duệ Lượng Công.

Thật là:

Đền Mục Lang hương lửa chẳng rời,

Tay lưới phép còn ghi công bắt hổ

(Nguyễn Huy Lượng – Tụng Tây Hồ phú)

Một vụ án đậm chất thần bí, hoang đường ma thuật phản ánh mâu thuẫn tôn giáo của một thời đại. Về sự việc này, Vua Tự Đức (1848 – 1883) có thơ vịnh:

Yên ba cửa dĩ ký bình tung,

Tự liệu quân vương giải cấu phùng.

Võng lý vô ngư hoàn hữu hổ

Tây Hồ hà loạn thiếu ngư long.

(Khói sóng đã lặng yên, việc cũ qua rồi, Giúp rập nhà Vua, mà gỡ bỏ mối gặp gỡ. Trong lưới không có cá, chỉ có hổ. Lo gì Hồ Tây mà thiếu cá!)

Nhưng đến năm 1573 khi vua Lê Thế Tông lên ngôi, thì vì tên huý của vua là Lê Duy Đàm, nên tên hồ Dâm Đàm bị bãi bỏ, mà thay bằng tên hồ Tây. Nhưng sao cái hồ ở phía bắc kinh thành Thăng Long mà lại gọi là hồ Tây ?

Có người giải thích rằng việc đặt tên này nhằm sánh với phương Bắc, vì ở Trung Quốc cũng có Tây Hồ nổi tiếng ở Hàng Châu. Việc đặt tên các địa danh, sông hồ của Việt Nam theo Trung Quốc là chuyện bình thường. Nhiều người giải thích rằng Tây Hồ nghĩa là hồ phía Tây Kinh thành, e không hợp lý. Cũng như Hà Đông, nếu xem bản đồ Hà Nội, thì địa danh trên không đúng theo phương vị Đông và Tây.

Tây Hồ là cách đọc Hán Việt của Hồ Tây, và Hồ Tây đã trở thành cái tên gần gũi, lâu dài, nên thơ nhất đối với người Hà Nội cũng như nhân dân cả nước.

Hồ Tây còn có một thời gian ngắn gọi là Đoài Hồ, đó là thời Chúa Trịnh Tạc (1657 – 1682) được phong tước Tây Vương, nên địa danh có chữ Tây bị ông ra lệnh đổi thành Đoài (quẻ Đoài thuộc phương Tây – ý nghĩa như nhau, âm và chữ khác nhau) như Sơn Tây gọi thành Xứ Đoài, bởi vậy nên Tây Hồ được gọi là Đoài Hồ.

Nhưng cái tên Đoài Hồ không được dùng lâu, đến hết đời Chúa Trịnh Tạc dân ta gọi lại như cũ là: Hồ Tây.

Tuy nhiên tôi cho rằng các cách giải thích rằng vì là ở Trung Quốc có Tây Hồ nên ta cũng có Hồ Tây cho “oai” có vẻ không ổn.

Tôi cho rằng sở dĩ Hồ Tây có tên gọi Hồ Tây vì lẽ rất đơn giản: HỒ TÂY NẰM Ở PHÍA TÂY SÔNG HỒNG !( ngày xưa vốn là một nhánh của sông Hồng )

Dương Mạnh Trí

Paris 14-5-23

https://www.facebook.com/groups/778019953000802/permalink/1428626737940117/