Hội Thề Đông Quan

0
3

 Nguyệt Quỳnh kể chuyện Sử

Thuở người ta tin vào trời đất, coi lời thề có trọng lượng như sinh mạng. Thuở danh dự gắn liền với sự tồn vong của một quốc gia và niềm tin tâm linh gắn liền với quyền lực chính trị.

Một ngày cuối năm 1427, mây trên cổ thành Thăng Long và nước dưới sông Nhị Hà đã in dấu một sự kiện ngàn năm có một: một hội thề được thành lập giữa nghĩa quân Lam Sơn và quân xâm lược nhà Minh tại phía nam thành Đông Quan.

Khởi đi từ những ngày tụ nghĩa ở Lũng Nhai, những người trai áo vải Lam Sơn như Lê Lai, Lê Nhân Chú… bước chân vào kháng chiến không chắc rằng mình sẽ có mặt tại điểm cuối. Sau mười năm gian khổ, ngày hôm ấy, họ được tận mắt chứng kiến kẻ xâm lược phải cúi đầu, giải giáp trước anh linh sông núi nước nhà. 

Đầu năm 1426, Lê Lợi và Nguyễn Trãi dời đại bản doanh về bến Bồ Đề, bờ bắc sông Nhị, đối diện kinh thành ở bờ nam để vây hãm thành Đông Quan. Nghĩa quân vừa công thành, vừa dụ hàng giặc. Kế sách “ tâm công” của Lê Lợi và Nguyễn Trãi được triển khai: đánh vào ý chí giặc thay vì chỉ đánh vào thành lũy.

Lúc này, nghĩa quân Lam Sơn đã lớn mạnh, trong khi quân Minh sức cùng lực kiệt, chỉ còn cố thủ chờ viện binh.

Tháng 11 năm 1427, viện binh của giặc từ phương Bắc hối hả kéo xuống, mang theo hy vọng cứu vãn một Đông Quan đang hấp hối. Nhưng họ không ngờ rằng mình đang bước vào một thế trận đã được định sẵn.

Tại Ải Chi Lăng, nơi địa hình núi đá khép lại như một chiếc bẫy, nghĩa quân ta đánh gãy mũi tiến công, đội viện binh của Liễu Thăng tan vỡ giữa khe núi. Tàn quân vội dồn xuống Xương Giang, mong tìm được đường sống, nhưng nơi ấy đã trở thành chiếc túi khép kín. Thành bị vây, đường bị cắt, mọi hy vọng tắt lịm.

Từ Chi Lăng đến Xương Giang, số phận quân xâm lược đã được định đoạt.

Trong thành Đông Quan, Tổng binh Vương Thông lòng nóng như lửa đốt, ngóng chờ tin viện binh. Chợt nghe cấp báo: Bình Định Vương Lê Lợi cho áp giải các tướng giặc là Đô đốc Thôi Thụ, Thượng thư Hoàng Phúc đến trước cổng thành. Cùng với đó là cờ trống, vũ khí và cả song hổ phù của Liễu Thăng, có cả hai ấn Thượng thư bằng bạc của Lý Khánh và Hoàng Phúc.

Với nhân chứng và di vật rành rành đã gây chấn động mãnh liệt, từ tổng binh Vương Thông cho đến quân lính trong thành đều hết sức khiếp sợ.

Biết rằng mọi con đường sống đã khép lại, Vương Thông đành nuốt lệ xin giảng hòa. Ngày 16 tháng 12 năm 1427, bên bờ sông Nhị, hội thề lịch sử được thành lập.

Giữa không khí còn vương khói lửa chiến tranh, hai bên đứng trước nhau, cùng đọc bài Văn hội thề do Nguyễn Trãi soạn. Theo đó, Vương Thông cam kết rút toàn bộ quân về nước, không chờ viện binh, trên đường rút quân không cướp bóc dân chúng, và không bao giờ xâm phạm Đại Việt nữa. Phía ta, Bình Định Vương bảo đảm cho quân địch được toàn mạng trở về, đồng thời sẽ làm biểu cầu phong với triều Minh.

Tham dự hội thề, Ngoài Lê Lợi còn có các tướng: Trần Nguyên Hãn, Lưu Nhân Chú, Phạm Vấn, Lê Ngân, Phạm Văn Xảo, Bùi Bị, Trịnh Khả, Nguyễn Chích, Nguyễn Lý, Phạm Bối, Lê Văn An, Bế Khắc Thiện, Ma Luân.

Phía quân Minh, dẫn đầu là Tổng binh Vương Thông và các tướng Sơn Thọ, Mã Kỳ, Trần Trí, Lý An, Phương Chính, Trần Tuấn, Trần Hựu, Chu Kỳ Hân, Quách Vĩnh Thạnh, Dực Khiêm, Lục Quảng Bình, Hồng Bỉnh Lương, Lục Trinh, Dương Thời Tập, Quách Đoan.

Sau đó Lê Lợi hạ lệnh: Số giặc về bằng đường thuỷ thì cấp cho 500 chiếc thuyền giao cho Phương Chính và Mã Kỳ nhận lãnh. Số giặc về bằng đường bộ thì cấp thêm lương thảo giao cho Sơn Thọ, Hoàng Phúc nhận lãnh. Riêng số giặc bị bắt hoặc đầu hàng từ trước, tổng cộng hơn hai vạn người cùng với hơn hai vạn con ngựa thì giao cho Mã Anh nhận lãnh và cho tướng quân Trần Tuấn đem quân trấn thủ đi theo. 

Tất cả quân Minh đều kéo nhau tới dinh Bồ Đề để lạy tạ mà về. Tướng giặc là Phương Chính phần xúc động, phần hổ thẹn mà rơi cả nước mắt.

Sử gia Trung Quốc, Cốc Vĩnh Thái trong Minh sử kỷ sự bản mạt có lời bình về việc nhà Minh ra lịnh bãi binh ở Đại Việt như sau: 

Vương Thông lực yếu mà phải xin hoà, Liễu Thăng lại sang rồi bị thua chết. Sau đó lại xuống chiếu sai sứ sang giao hảo và rút quân về, nhục nhã thực bằng Tân, Trịnh hội thề dưới chân thành, hổ thẹn ngang với Kính Đường cắt đất giảng hoà vậy.

Ngày 29-12-1427, Vương Thông bắt đầu cho quân rút lui, đến ngày 3-1-1428 thì đất nước ta sạch bóng quân thù.

Mười năm kháng chiến của một dân tộc nhỏ bé đã khép lại bằng lời thề trước anh linh tiền nhân tại Hội Thề Đông Quan – một chiến thắng với biểu tượng của lòng nhân nghĩa: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí nhân để thay cường bạo.”

Nhiều năm sau, bản “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi vẫn khiến một số học giả Trung Quốc khó chịu, họ chỉ trích rằng bản văn mang “lời lẽ ngỗ nghịch”. Tuy nhiên, nhiều học giả Trung Quốc thời nay đã phải công nhận rằng “Bình Ngô Đại Cáo” không chỉ là một văn kiện lịch sử giá trị, mà còn là một áng “thiên cổ hùng văn”.