Tiếp theo Phần1
Tôi bò dậy, cố giữ mình tránh xa cái tủ, tránh xa thân thể bất động của Lân, lần mò ra phòng khách tìm máy điện thoại. Đường dây nối xuống quầy tiếp tân chỉ có những tiếng rét rét như dế kêu. Tôi quay máy nhiều lần, bỗng rồi ngớ ngẩn nhận ra, căn phòng này mất điện từ khi nào. Đốm đèn đỏ góc tivi không cháy. Đồng hồ điện tử của tôi đặt trên bàn nước cũng tắt ngấm. Chỉ có ánh sáng trăng lạnh lẽo soi qua khung cửa. Mà mùa cuối tháng âm lịch thì không thể có trăng. Tiếng rên rỉ, cọt kẹt vọng ra từ phòng ngủ, như là đau đớn, như là hăm doạ, không rõ của Lân hay của thằng nhỏ kia.
Tôi mang giày, khoác áo lạnh lần ra hành lang. Bên ngoài cũng tối thui như trong rạp chiếu phim. Phía xa, cuối hành lang thoáng chút ánh sáng leo lét. Tôi phân vân không biết có nên rút chìa khoá cửa mang theo, vì tôi sợ khi trở về sẽ không vô được phòng. Lân ngủ rất say. Gã sẽ hoá hung tợn nếu bị đánh thức trước khi trời sáng. Nhưng nếu rút chìa khoá ra khỏi ổ công tắc điện thì phòng sẽ bị ngắt điện luôn. Như vậy cũng làm Lân nổi cơn thịnh nộ nếu bất chợt thức dậy trong bóng tối.
Cánh cửa phòng bên cạnh bỗng bật mở. Bóng đen thình lình hiện ra trước mặt tôi, nụ cười ngây độn tối tăm. Dẫu nhận ra bà chị chồng điên điên tỉnh tỉnh, tôi vẫn hốt hoảng sảy tay. Cánh cửa phòng đóng sập lại sau lưng. Chị Trung khoác tấm áo mưa dài ướt đẫm như vừa từ bên ngoài trở về. Tôi ái ngại hỏi:
“Ủa, chị đi đâu giờ này?…”
Chị chồng tôi đứng bên ngạch cửa nhìn sững vào bóng đêm, lắng nghe động tĩnh. Nhưng chị không thấy tôi, không nghe tôi nói. Xa xa có tiếng pháo nổ đì đùng, lác đác vọng về. Chị vuốt mái tóc đẫm nước, nở nụ cười ghê rợn rồi bước thụt lùi vô phòng. Cánh cửa phòng 214 đóng sập lại. Một tiếng “cốp” cộc cằn vang lên, không rõ là tiếng kéo ổ khoá hay tiếng va chạm kim loại gì đó.
Tôi đứng ngẩn ngơ trước cửa phòng, nhớ tới lời thằng nhỏ đánh giày. “Ban đêm chị đừng bước chân ra ngoài”. Bây giờ mới nhớ tới nó thì đã quá muộn. Cánh cửa phòng tôi đã khoá kín. Chìa khoá còn gắn trong ổ công tắc điện. Thằng nhỏ đánh giày bị thương nằm trong tủ chờ chết.
Tôi lần theo vách tường xuống đại sảnh. Cô gái cỡ tuổi tôi, ngồi bên quầy tiếp tân. Cô mặc áo dài trắng, cắm cúi đan len bên ngọn đèn dầu leo lét. Cuộn len màu tím rất to nằm trên bàn giấy. Cái áo, hay cái khăn gì đó chỉ mới đan được khoảng một gang tay. Hai que kim loại nhọn hoắc đâm xiên xẹo liên tục vô nhau rất khít khao. Tôi chưa thấy ai đan len bao giờ. Ở quê tôi, không ai cần áo len. Mà tôi cũng tưởng thời buổi này ngoài siêu thị cái gì cũng có, không còn ai phải tự đan áo. Thành ra hình ảnh người thiếu nữ ngồi đan len dưới ánh đèn dầu trông rất cũ kỹ và xa lạ. Nó lạc điệu như tấm hình Marilyn Monroe với cái xu-chiêng thô cứng bự chảng mà bầu Huấn treo trong phòng tập nhảy. Không biết bầu Huấn thấy đẹp chỗ nào, chứ tôi thấy bà hột mít đó quê mùa và thô kệch kinh khủng. Cô gái ngước mắt lên nhìn tôi. Cặp mắt không có tròng đen, trắng dã ghê rợn. Tôi đang nghĩ tới cái xu-chiêng của Marilyn bỗng giật mình, la lên thất thanh. Nhưng rồi cô ta chớp chớp cặp mắt đen tuyền:
“Chị cần gì?”
Suýt nữa tôi tát vô mặt mình một cái, cho tỉnh ngủ. Rõ ràng cô này có hai tròng mắt đen rất to. Tôi nói như trách móc:
“Chị ngồi đan ở đây cả đêm à? Tôi gọi điện thoại xuống mấy lần mà không được.”
Khuôn mặt xanh xao nở nụ cười tối đen. Tôi lại trợn mắt nhìn. Hình như cái miệng tối tăm đó không có răng. Nhưng bây giờ cô ta đã có răng. Ánh đèn dầu soi lên hàm răng đều tăm tắp:
“Cúp điện từ hai ngày nay, mất hết liên lạc với Sài Gòn.”
Tôi tưởng mình nghe lầm, lại định vỗ hai cái lên lỗ tai. Buổi chiều, khi tôi tới đây, khách sạn vẫn có điện bình thường. Tôi còn nhớ rõ, hành lý của tôi được chuyển lên tầng trên bằng thang máy. Trước lúc đi ngủ tôi còn coi tivi show diễn thời trang nhàm chán của bầu Huấn. Anh ta đang cố tìm cách đưa Mai Lý vô thay thế vị trí số một của tôi. Chuyện mất liên lạc với Sài Gòn cũng là bịa đặt. Chuyến bay từ Sài Gòn ra đây chưa tới một giờ và chỉ gặp trở ngại nhỏ khi lạc vô vùng bão xoáy. Lúc đó Lân đã cười đểu cáng và lên giọng doạ dẫm. “Tụi mình sẽ lạc vô vùng địa ngục và chỉ có một đứa quay trở lại.” Tôi khó chịu ngắt lời gã. “Mình ra đó để ăn tết, anh đừng nói những lời xui xẻo khó nghe như vậy.” Nhưng Lân vẫn tiếp tục cười đe doạ, gã không bao giờ quên được ý nghĩ phải hành hạ tôi, phải làm cho tôi sợ hãi. “Ừ, ăn tết. Một cái tết chết chóc.”
Tôi phân vân nói với cô tiếp tân. Một cô tiếp tân có đủ răng và mắt.
“Tôi cần một bác sĩ.”
Cô tiếp tân lại tiếp tục bằng một giọng lạc lõng:
“Họ ở bên bệnh viện tiểu khu. Nhiều người chết và bị thương quá. Một số phòng của khách sạn này cũng được trưng dụng để chứa xác vô thừa nhận.”
Tôi bắt đầu mất bình tĩnh, có cái gì không bình thường ở đây. Hoặc là tôi mơ ngủ. Hoặc cô gái này điên. Tôi tì tay lên cạnh gỗ xơ xước. Dĩa mứt tết trước mặt tôi mốc đen gớm ghiếc đến độ tôi thấy nó giống như dĩa thèo lèo cứt chuột. Chẳng hiểu khách sạn năm sao này đón khách kiểu gì mà chưa tới tết mứt đã mốc meo. Tôi lên giọng bực tức:
“Tôi cần một bác sĩ, có người bị thương nặng trên phòng, máu ra nhiều lắm.”
Cô tiếp tân che tấm len màu tím lên mặt, nói như đóng kịch:
“Sao mà bị thương? Trúng đạn hay pháo? Sao mà nhiều người chết như vậy? Bác sĩ Alois vừa đi ra bên ngoài, chị có thể đuổi theo anh ấy. Trước khi trời sáng.”
Tại sao lại trước khi trời sáng? Chẳng lẽ ông bác sĩ này chỉ làm việc ca đêm? Tôi hít một hơi, đi về cửa chính. Bên ngoài tối đen, trời đã ngưng mưa nhưng không khí vẫn còn ẩm ướt và dày đặc sương. Cây sứ trắng đậm ngát hương đêm. Tôi bước ngang qua chỗ đầu hôm gặp thằng nhỏ đánh giày. Cảm giác có ai quan sát làm tôi giật mình quay lại. Gốc cây trắng sần sùi hiện ra mờ ảo trong màn sương. Chiếc bóng cô gái tiếp tân cũng khuất lấp dưới ánh đèn dầu tù mù. Gió đưa mùi nhang trầm kỳ bí đêm cuối năm, đưa mùi thuốc pháo khô khốc. Một tiếng nổ bất chợt xé toạc màn đêm. Ánh sáng vụt cháy đỏ ở góc trời. Tôi sững lại một giây rồi quyết định chạy về hướng đó.
*
Thành phố ban đêm bị thu hẹp lại. Những mái nhà cổ kính té sấp vô nhau. Những con đường bị vọp bẻ co rút cong quẹo. Không một bóng người, vắng lặng ghê hồn. Mấy hương án đặt trước bình phong âm ỉ cháy, toả những đốm sáng lập loè. Tôi chạy loanh quanh hơn một giờ đồng hồ mà không biết con đường nào dẫn về cái chỗ mang tên kỳ cục “bệnh viện tiểu khu”. Cả con đường quay về khách sạn tôi cũng không tìm lại được. Những tấm bảng tên đường cũ kỹ, gần như mục nát, nằm vắt ngang trên cột gỗ khẳng khiu. Tôi bỗng có liên tưởng khó chịu, mấy tấm bảng tên đường này như những cây thánh giá trên nấm mộ xưa cũ bỏ hoang.
Tôi tạt vô dãy hàng quán còn mở cửa bên đường. Ánh đèn dầu leo lét soi lên những bộ bàn ghế xếp ngay ngắn. Nhiều bàn còn nguyên chén đũa và thức ăn thừa đã mốc meo. Tôi hắng giọng để đừng run, rụt rè cất tiếng gọi:
“Có ai ở đây không? Xin lỗi! Có ai ở đây không?”
Từ trong những bức tường gỗ cũ kỹ vọng lại tiếng kêu lạc lõng của tôi, “… ai ở đây không…” Mấy câu đối đỏ treo trên tường phất phơ chuyển động, cũng phát ra tiếng nói u uẩn, “…ai ở đây…” Tôi bước qua cửa, lúng túng phân trần:
“Tôi chỉ hỏi đường. Tôi chỉ đi tìm bác sĩ. Bác sĩ tên… Alois gì đó.”
Tiếng cười nhỏ phía sau lưng làm tôi dựng tóc gáy.
“Cô nên trở về phòng và khoá cửa lại.”
Gã đàn ông đứng bên quầy rượu từ bao giờ, nhìn tôi cười chế giễu. Ánh đèn dầu vàng vọt soi lên mái tóc màu mật ong, soi lên chiếc sống mũi thẳng. Tấm áo sơ-mi trắng trễ nải để hở một khoảng ngực vạm vỡ và đôi cánh tay trần gân guốc. Gã đẹp trai và phóng túng, như diễn viên trong một bộ phim cao bồi, giữa một quán rượu cũ kỹ miền Viễn Tây. Tim tôi thắt nhẹ lại, hơi thở bị dồn lại nơi đó và ấm dần lên. Một cảm giác êm đềm tràn tới, ngọt dịu đến độ tôi ngỡ mình đã quen gã từ một kiếp nào đó. Tôi cúi đầu xuống, cố nói thật êm ái. Tôi biết mình có đôi hàng mi dày mượt và cái chóp mũi rất đẹp. Những tấm hình mẫu tôi chụp đều ăn ảnh trong tư thế cúi đầu này.
“Hi, chào anh.”
Gã đàn ông đáp lại bằng một giọng vừa ấm áp vừa giễu cợt, làm tim tôi thắt lại một lần nữa:
“Hi, chào em. Tôi có thể giúp gì được cho em?”
“Em đi tìm bác sĩ, có người bị thương trong phòng. Máu ra nhiều lắm.”
“Đó chỉ là một cơn ác mộng.”
Tôi ngẩng phắt đầu lên, mở to mắt nhìn gã:
“Cơn ác mộng nào chứ? Anh là ai?”
“Tôi là người em đi tìm. Bác sĩ Alois.”
Đầu óc tôi bỗng đâm ra ngớ ngẩn như lúc gặp cô gái ở quầy tiếp tân. Tôi không sao kết nối được những chuyện lạ lùng đang chồng chéo lên nhau. Một cô tiếp tân chỉ báo cho khách những tin kinh dị. Một căn phố đêm hoang vắng không bóng người. Một bác sĩ nghe tin người bị thương lại dửng dưng bảo là giấc mơ.
“Cái này không phải là giấc mơ. Em đang tỉnh táo mà.”
Tiếng bác sĩ Alois lại vang lên ấm áp, nhưng đã thôi giễu cợt:
“Em về đi, cứ đi thẳng. Hết con đường này là khách sạn. Đừng bao giờ trở lại đây nữa.”
“Nhưng còn một thằng nhỏ bị thương, đang nằm… trong tủ. Anh phải đi với em tới đó.”
Lẽ ra tôi phải nói “em không muốn rời xa anh”, bình thường tôi vẫn có thể nói lưu loát câu này với mọi đối tượng ưng ý. Nhưng không hiểu sao, ánh mắt Alois làm tôi chao đảo dữ dội, và trong phút bối rối tôi lại nhắc tới thằng nhỏ đánh giày. Có vẻ như Alois biết điều đó, ánh mắt gã dừng lại rất lâu trên môi tôi. Bỗng nhiên gã thở dài, quay mặt đi:
“Tôi chẳng thể làm được gì. Tôi với Rai đang bị giam cầm trong hàng núi công việc và khó khăn. Không thuốc men, không điện nước và không cả sự quan tâm của chính quyền cố quốc. Thôi, em về đi. Buổi tối nhớ khoá kín cửa phòng.”
*
Tôi trở về khách sạn khi ánh mặt trời vừa toả một vùng ráng đỏ trên những mái nhà cao tầng. Tôi đứng ngơ ngẩn dưới lòng đường, đưa mắt nhìn mãi vùng sáng ban mai. Lần đầu tiên tôi nghĩ về một ngày mới, bằng một cảm xúc xôn xao.
Lân mở cửa phòng khi tôi bấm chuông. Khuôn mặt căng thẳng của Lân đang giấu dưới lớp xà bông cạo râu trắng. Gã dọ dẫm hỏi:
“Em vừa đi đâu về?”
Câu hỏi làm tôi an tâm, Lân không biết cả đêm tôi bỏ ra khỏi phòng. Tôi cười gượng gạo:
“Em đi dạo mát một chút.”
Nhưng rồi không cưỡng nổi sự sợ hãi, tôi đưa mắt nhìn về phía tủ treo áo quần. Miệng tôi há ra, khô khốc và đắng nghét. Những lớp băng keo dán trên mép cửa đã bị ai gỡ đi.
“Thằng nhỏ… thằng nhỏ đâu?”
Lân cười tàn nhẫn:
“Thằng nhỏ nào? À, à… nó chết rồi.”
Tôi ngồi sụp xuống mép giường, nước mắt bỗng trào ra nhoè nhoẹt. Rất ít khi nào tôi khóc. Những điều hư thật lẫn lộn trong đêm và vụ án mạng tàn khốc này làm tôi hoang mang kiệt quệ. Cả đêm tôi chạy đi tìm bác sĩ cho nó, chẳng hiểu sao lại ngớ ngẩn trở về một mình. Bây giờ nó chết rồi. Chắc là chết vì thiếu không khí. Tiếng Lân thoang thoảng vọng tới. Chị Trung ở phòng bên cũng sang từ bao giờ, đang cùng Lân thì thào bàn tính chuyện gì đó. Tai tôi như đang cố tình chống đối lại mọi tiếng động. Nó ù đi cho tới lúc tôi bị Lân nắm vai giật mạnh. Giọng Lân vang lên tức tối:
“Em nghe chưa? Không khóc lóc nữa. Anh có việc phải đi gấp. Em ở lại đây chăm sóc chị cẩn thận. Không được rời khỏi phòng ban đêm.”
Lân biết gì về những chuyện xảy ra ban đêm. Sao gã cũng dặn tôi y hệt thằng nhỏ đánh giày và bác sĩ Alois. Tôi chưa kịp tìm hiểu thêm, Lân đã hối hả ra đi. Chị Trung ngồi ở góc phòng, cặp mắt trong veo nhìn chăm chăm về phía cửa tủ áo quần. Cái miệng vàng khè lẩm bẩm không ngừng, nào là đấu tranh tư tưởng, nào là kiểm điểm nội tâm. Hình như chị trò chuyện với cả thằng nhỏ chết trong tủ. Không phải lần đầu tiên tôi chán ghét cảnh phải ở chung nhà với chị, nghe chị lảm nhảm liên hồi. Cặp mắt trong veo, hàm răng thưa và cái trán hói nhăn nheo, chị Trung giống thằng loạn óc Gollum trong “Chúa Tể Chiếc Nhẫn”. Xấu xí, độc ác và điên khùng. Người ta cần gì sống cả trăm năm để rồi bị biến dạng gớm ghiếc như vậy.
Buổi sáng bên ngoài tràn qua khung cửa mang theo tiếng rao hàng rộn rã.
“Bánh bột lọc đây. Bánh nậm, bánh lá…”
Tôi lần ra cửa sổ. Con phố bên dưới tấp nập người và xe cộ.
*
Buổi chiều, Lân vẫn chưa liên lạc lại. Tôi gọi điện thoại, gửi tin nhiều lần nhưng không có hồi âm.
Tôi không muốn ở trong phòng một mình với cái tủ áo quần có xác thằng nhỏ. Sau buổi ăn chiều với chị Trung, tôi đưa chị ấy về phòng rồi mang máy chụp hình đi lang thang ra phố. Mặc kệ lời dặn dò của Lân, tôi không thể ở cả ngày bên người chị chồng điên loạn đầy bất trắc. Dẫu cuộc hôn nhân này là một bản giao kèo, đem tự do đổi lấy tiền bạc, thì tôi vẫn có thể dứt bỏ bản giao kèo đó mà trở về cuộc sống lang bang túng thiếu của mình.
Trời mưa những hạt nhỏ li ti rồi chợt hửng nắng. Bộ áo đầm tôi đang mặc là áo dạ tiệc của tối hôm qua. Nó hơi hở hang và không hợp với thời tiết nóng lạnh thất thường này. Nhưng tôi chỉ có hai bộ đồ để mặc. Đám áo quần khác hiện treo trong tủ, nơi thằng nhỏ bị giam cầm. Ý nghĩ phải mặc bộ đồ bốc mùi xác chết làm tôi nổi da gà. Mấy gian hàng mốt thời trang màu sắc sặc sỡ như mời chào. Tôi ghé qua mua hai cái quần jean và ba cái áo thun dài tay màu neon. Mấy cô bán hàng vóc dáng nhỏ như con nít, cứ xúm xít giới thiệu hết thứ này tới thứ kia. Nhưng tôi ngán quá, mua áo quần về rồi cũng không biết treo ở đâu. Dù chiều nay Lân có quay lại đem xác thằng đánh giày đi, tôi cũng nhất quyết không sử dụng cái tủ đó.
Tôi thả bộ qua mấy con đường nhỏ trồng bằng lăng. Thành phố ban ngày đã mất đi vẻ bí ẩn, xiêu vẹo của ban đêm. Nó như hàm răng xô lệch, cái sâu đen, cái mạ vàng. Nhà này thụt vô, nhà kia ló ra, mới cũ lẫn lộn. Tôi đành đi vòng qua khu công viên chụp vài tấm hình hoa sứ trắng, mấy cội mai vàng. Vài chàng trai ga-lăng bám theo bấm máy giúp, cứ nhìn tôi trâng tráo. “Em đẹp như hoa hậu.”
Tôi chẳng thấy phiền hà gì mấy lời tán tỉnh qua đường. Ngày nào còn được khen là còn mừng ngày đó. Tôi vui vẻ để chút thời gian làm dáng cho mấy kiểu chụp cận cảnh, chút thời gian tán dóc với một anh tóc dài ngang vai. Trên đường về lại khách sạn, tôi la cà ghé vô hàng ghế đá bên lề để xem lại hình trong máy. Tôi có quá nhiều thời gian rảnh rỗi trong khi chờ Lân về dọn sạch phòng. Màn hình hiện ra mấy tấm mới chụp. Trời nắng tốt nhưng nụ cười người mẫu bệ rạc như xe máy hết xăng. Tôi bấm tới khoảng tấm hình thứ mười, thì giật mình, suýt nữa làm rớt luôn cái máy. Bên dưới những tấm hình tôi mới chụp, là hình thằng nhỏ đánh giày. Nó nằm co ro bên chân bàn, hai cổ tay bị cột chặt bằng dây điện. Cặp mắt nó đã dại đi nhưng vẫn còn đọng quầng nước mắt đau đớn.
Tôi nín thở kiểm tra lại toàn bộ hình ảnh. Chỉ có một tấm hình duy nhất của thằng nhỏ lạc vô máy. Tôi mở lớn vị trí hai bàn tay. Sự thật khủng khiếp hiện ra. Hai bàn tay thằng nhỏ tím bầm vì những lằn dây điện, mà chắc là đã bị cột rất lâu trước khi bị tử thương ở đầu. Nó không hề bị chị Trung lỡ tay xô té.
Mặt trời lặn dần sau những dãy mái nhà. Đốm đèn đỏ trên máy chụp hình phụt tắt. Những ngọn đèn diện bên đường cũng biến mất. Thành phố chìm dần trong vùng xám ảm đạm. Tôi ôm chặt máy chụp hình chạy nhanh về khách sạn.
Quầy tiếp tân vắng lặng, chỉ có cô gái áo dài trắng ngồi cắm cúi đan len. Tôi hỏi gấp:
“Phòng 215. Có ai ghé qua hỏi chìa khoá không?”
Cô tiếp tân không ngừng tay đan:
“Không. Họ vừa ghé qua, lùng kiếm bác sĩ Alois và bác sĩ Rai.”
Tôi phóng chạy lên cầu thang. Hành lang bên trên đã cúp điện tối thui. Tôi quay lại quầy tiếp tân, hỏi xin cây đèn dầu. Cô gái áo trắng thờ ơ chỉ vô cây đèn duy nhất trên bàn. Tôi không khách sáo, cầm luôn cây đèn lên cầu thang. Nhìn lại phía sau, cái bóng trắng đã biến đi trong vùng tối. Ánh đèn dầu leo lét soi dọc con đường hành lang. Tôi rón rén bước qua phòng chị Trung, chậm rãi mở cửa bước vô phòng mình.
Cửa sổ đóng kín nên không khí trong phòng rất nóng và ẩm. Máy điều hoà nhiệt độ do rút chìa khoá ra nên đã ngưng chạy. Cánh cửa tủ áo quần vẫn đóng im ỉm. Khi tôi đẩy, nó chuyển động chậm chạp vì kẹt phải mép mền nỉ. Cái xác thằng nhỏ hiện ra trong vùng sáng vàng vọt. Nó ngồi co quắp lại. Mái tóc ủ rũ ló ra trên mép nỉ, gục giữa hai đầu gối. Tôi không thấy vết thương trên đầu. Vết thương nằm ở phần bên kia, chìm trong bóng tối.
Tim tôi bỗng thắt lại vì thương xót. Trong tư thế ngồi co quắp, nó nhỏ xíu và ốm yếu như con mèo. Tôi chắp tay đưa lên khấn nó:
“Em tha lỗi cho chị.”
Tôi lần tay theo mép mền nỉ, tìm cách mở vòng vải quấn quanh bụng thằng nhỏ. Cái xác bây giờ đông cứng. Nó như khối đá bị kẹt giữa bốn lớp gỗ. Phải vất vả lắm, tôi mới nới rộng được một khoảng mền. Mồ hôi chảy dài từng dòng trên sống lưng. Hai bàn tay thằng nhỏ từ từ hiện ra. Chúng bị cột chặt bằng dây điện thoại.
Có tiếng động bên ngoài. Tiếng mở cửa bên phòng chị Trung. Tôi hốt hoảng đẩy cánh cửa tủ lại. Lần này nó chạy êm ru vì không kẹt trúng góc mền. Tiếng chân dừng trước cửa phòng tôi. Hình như là có nhiều người ở đó. Tiếng đập cửa gấp gáp. Tôi lo sợ chạy ra phía cửa sổ. Bên ngoài cũng có người. Trong bóng đêm xám ngắt, tôi nhận ra những bóng người đứng lố nhố dưới đường. Họ hăm hở chỉ tay lên phòng tôi. Ánh trăng từ nơi nào đổ xuống, soi lên những khuôn mặt ma đói nhăn nheo.
Tôi lùi lại, giật mình nhận ra cái bóng đen thui của mình in trên vách. Cây đèn dầu bên tủ áo quần soi một vùng sáng giữa căn phòng. Tiếng đập cửa bên ngoài trở nên hung hãn. Hình như có kẻ nào dộng báng súng lên cửa, như trong những bộ phim sát thủ. Tôi đoán, đoạn phim tiếp theo sẽ là màn bắn nát ổ khoá. Tôi chạy tới, thổi tắt cây đèn. Cảm giác đầu tiên là hoảng hốt, khi mình đột ngột rơi vào vùng tối đen. Tiếng ai bất chợt hét lên giận dữ. Ngoài hành lang, có cái gì vừa rơi vỡ trên nền nhà. Xa xa, tiếng pháo đì đùng kỳ quặc lại vọng về.
Những tiếng động bên ngoài nhỏ dần. Tôi đoán, họ đã bỏ đi vì không tìm ra nguồn ánh sáng.
Tôi ngồi lọt thỏm trong bóng tối. Hai hàm răng tôi đánh lập cập vô nhau. Cả thân hình cũng run lên từng hồi, vì lạnh, vì sợ. Lần mò chắp nối những chuyện xảy ra, tâm trí tôi bị cuốn chặt vô hình ảnh thằng nhỏ bị trói hai tay.
Ai đã lấy máy của tôi để chụp hình xác chết? Chụp để làm gì?
*
(Còn tiếp)