Những con số và thực trạng khủng khiếp về căn bệnh ung thư ở VN

0
0

Theo IARC – ủy ban quốc tế về nghiên cứu ung thư của WHO cho biết một con số thống kê năm 2012, Việt Nam có 125.000 ca ghi nhận phát hiện ung thư mới và con số người chết vì ung thư trong năm là 94.700 ca. Tỷ lệ số người bị mắc ung thư trên 100.000 người là 140,4 người bị mắc bệnh. WHO xếp Việt Nam vị trí 78 trên 172 nước được khảo sát có tỷ lệ người chết vì ung thư cùng với Somalia, Finland và Turkmenistan. Tuy nhiên, mức “tăng trưởng ung thư” được đánh giá là tăng nhanh và sẽ tăng gấp 2 lần số người chết vì ung thư vào năm 2020, tức là khoảng 180.000 người/năm.
Con số này thậm chí được giới chức y tế CSVN đánh giá là con số ở mức trung bình so với các nước khác trên thế giới. Tuy nhiên, những con số thống kê ở Việt Nam thì luôn có vấn đề vì con số người chết vì ung thư ghi nhận tại 2 bệnh viện trung ương là bệnh viện K và bệnh viện U bướu Trung ương là hoàn toàn không đầy đủ. Một số lượng lớn bệnh nhân không có điều kiện chữa trị đến cùng và được bệnh viện vận động gia đình đưa bệnh nhân về nhà để đợi ngày chết sẽ không được ghi nhận.
Ở Việt Nam các nghiên cứu khoa học, khảo sát đánh giá cụ thể trong lĩnh vực y tế cộng đồng ở cấp quốc gia hay cấp Bộ về tác động môi trường của các khu công nghiệp, nhà máy nhiệt điện, khu mỏ khai khoáng, khu nhà máy xử lý chất thải độc hại, hay ô nhiễm đô thị….ảnh hưởng như thế nào tới sức khỏe người dân trong suốt 20 năm trở lại đây rất hạn chế. Năm 2007, chỉ có những khảo sát sơ bộ và ghi nhận của Bộ Y Tế về 51 làng ung thư ở Việt NamNăm 2011, dự án của Bộ Tài Nguyên Môi trường đánh giá chung về nguồn nước sinh hoạt của 37 làng ung thư trên 22 tỉnh thành ở giai đoạn đầu là “Điều tra, tìm kiếm nguồn nước hợp vệ sinh phục vụ cấp nước sinh hoạt cho một số “làng ung thư” của Việt Nam”. Trong quá trình dự án, danh sách của những làng ung thư được ghi nhận với những địa danh như Thạch Sơn, Phú Thọ nơi mà tất cả môi trường không khí, nước, đất đều bị ô nhiễm nặng nề do hoạt động của những doanh nghiệp nhà nước như Sunphat Lâm Thao, ắc qui Phú Thọ, giấy Bãi Bằng cùng với hoạt động của các lò gạch thủ công. Nguồn nước ngầm và nước mặt ở đây đều bị nhiễm độc phenol, arsen…và ô nhiễm vi sinh nặng nề. Chỉ riêng một làng Thạch Khê, Thạch Sơn, Phú Thọ đã ghi nhận 139 người chết vì ung thư trong thời gian khảo sát (2011). Theo số liệu y tế địa phương cung cấp, 37 làng nghề có 1.136 người chết vì ung thư và 380 người ở xã kế cận cũng chết vì lý do tương tự trong thời gian 5-20 năm. Những cái chết này có nguyên nhân rõ ràng chỉ có điều trách nhiệm của những doanh nghiệp đóng trên địa phương đã hủy hoại môi sinh của cộng đồng như thế nào thì chưa bao giờ người dân được biết.
Một ví dụ tương tự, thị trấn Kiện Khê, Thanh Liêm, Hà Nam, nơi mà chính quyền địa phương tràn lan cấp phép các doanh nghiệp ồ ạt khai thác than và khoáng sản bất chấp các điều kiện môi trường tệ hại. Chỉ trong vòng 5 năm, đã có hơn 100 người chết vì ung thư và thậm chí 100% cán bộ công chức của ủy ban nhân dân thị trấn đều nhiễm độc chì và asen theo kết quả kiểm tra sức khỏe cho công chức gần đây.
Đến những thảm họa môi sinh
Nếu như hoạt động xả thải của những doanh nghiệp như sunphat Lâm Thao, ắc qui Phú Thọ hay giấy Bãi Bằng để lại những “di sản” là các làng ung thư ở cấp độ xã, huyện thì ở những khu công nghiệp khổng lồ như Formosa, nhiệt điện Vĩnh Tân, Bauxit Tân Cơ hay nhà máy giấy Lee & Man ở huyện Châu Thành, Hậu Giang nếu để xảy ra tình trạng ô nhiễm và xả thải tương tự thì hậu quả của nó vô cùng thảm khốc và rõ ràng mức độ hủy diệt môi trường và phạm vi địa lý lớn hơn rất nhiều.
Tổ hợp luyện kim ở khu phức hợp khổng lồ Formosa Vũng Áng – Hà Tĩnh với con số đầu tư hàng tỷ USD nhưng lại sử dụng công nghệ lạc hậu của Trung Quốc khi mới đi vào hoạt động thử vào tháng 4. 2016 đã gây ra một thảm họa môi sinh thực sự. Ngay khi nhà máy này hoạt động và xả thải xuống biển không qua xử lý, tất cả sinh vật biển từ tầng đáy cho đến tầng nổi chết hàng loạt và dạt bờ. Dòng nước thải mang những chất cực độc dù được pha loãng bằng hàng tỷ khối nước biển theo dòng hải lưu ven bờ, xuôi xuống phía Nam và tàn sát mọi sinh vật trên đường đi của nó ảnh hưởng đến cả 4 tỉnh miền Trung và kéo xuống tận Huế và Đà Nẵng. Cho đến nay, mọi hoạt động khai thác thủy sản, du lịch, dịch vụ biển và diêm nghiệp của bốn tỉnh này bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Những tồn dư các hóa chất cực độc được phát hiện trong nước biển và hải sản theo tính toán cần đến 50 năm mới có thể khôi phục lại hệ sinh thái ban đầu với điều kiện là không tiếp tục xả thải. Người ta có thể hình dung ra trong tương lai, sẽ sớm có những thành phố ung thư ở những tỉnh thành này với qui mô lớn hơn nhiều so với Thạch sơn, Phú Thọ.
Một xu hướng đáng lo ngại khác là các nhà lập chiến lược năng lượng Việt Nam ưa thích sử dụng nguyên liệu hóa thạch để nhanh chóng có được sản lượng điện như mong muốn, đáp ứng cơn khát năng lượng bằng việc phát triển điện than. Một bài toán khá đơn giản và có vẻ như “đôi ta đều có lợi” khi các nhà thầu Trung Quốc sẵn sàng cho vay tiền để các tỉnh thành mua về những nhà máy điện đã trở nên lỗi thời và phải di chuyển ra khỏi các thành phố lớn ở Trung Quốc vì lý do môi trường. Thay vì xả thải ở Bắc kinh hay Thâm Quyến, những nhà máy này sẽ được chuyển giao lại ở Việt Nam. Điện sẽ được bán cho Trung Quốc và tất nhiên việc xã thải thoải mái hơn nhiều mà không sợ bị phạt vì gây ô nhiễm. Nguồn vốn vay dễ dàng của các ngân hàng Trung Quốc sẽ có hoa hồng hàng triệu USD như một tiền lệ hiển nhiên cho quan chức tỉnh thành xây dựng nhà máy nhiệt điện bằng công nghệ Trung Quốc. Vấn đề ở chỗ, nợ phải trả cho những khoản vay đó và bệnh tật, ung thư sẽ do người dân gánh chịu. Chưa nói đến nghịch lý vô cùng khốn nạn là Việt Nam sẽ phải nhập than của Trung Quốc với giá cao hơn mặt bằng khu vực đến 1,5 lần và số tiền này lấy từ đâu ra hay lại tiếp tục vay của Trung cộng?
Theo chiến lược của các nhà lập chính sách năng lượng Việt Nam, đến năm 2030 sẽ có thêm 41 nhà máy điện than trên toàn quốc. Báo cáo của nhóm nghiên cứu ĐH Harvard về gánh nặng bệnh tật do nhiệt điện than tại Đông Nam Á đã ước tính số ca tử vong sớm ở Việt Nam do ô nhiễm nhiệt điện than sẽ tăng từ 4.300 ca (năm 2011) đến 15.700 ca (năm 2030)”. Hoạt động đốt than trong sản xuất điện tạo ra một lượng lớn hạt rắn lơ lửng MP2.5 cũng như NOx, SO2, H2S.. rất nguy hại cho phổi. Phơi nhiễm dài hạn với những yếu tố này là một trong những nguyên nhân gây ra các chứng ung thư đường hô hấp, viêm nghẽn phổi và suy hô hấp…Ngay khi những tổ hợp điện than đàu tiên Vĩnh Tân đi vào hoạt động, người ta có thể thấy tác động ngay lập tức đến cộng đồng ngư dân lâu đời ở địa phương. Hầu hết đã phải rời bỏ nhà cửa, làng xóm vì không thể thở được bầu không khí quánh đặc bụi và ngột ngạt hơi hóa chất.
Một siêu dự án và tổ hợp công nghiệp khổng lồ khác mà rủi ro về môi trường của nó có lẽ sẽ vượt xa những gì có thể thấy ở Formosa Hà Tĩnh hay Nhiệt điện Vĩnh Tân, đó là dự án Bauxit Tân Rai – Nhân Cơ. Đã có rất nhiều cảnh báo rủi ro môi trường về dự án này. Với đặc thù công nghệ lạc hậu, qui mô lớn, quản lý yếu kém và không hiểu quả về kinh tế, nhà máy luyện kim nhôm này mỗi ngày đang tích hàng ngàn m3 bùn thải từ quá trình xử lý quặng Bauxit. Thứ bùn này đậm đặc kiềm xút và nguy cơ nếu để xảy ra rò rỉ hoặc vỡ hồ chứa, toàn bộ thượng nguồn sông Đồng Nam sẽ bị kiềm hóa và hệ sinh thái sẽ bị hủy diệt. Các hồ Thác Mơ, Trị An và lưu vực sông Đồng Nai sẽ bị ô nhiễm nặng nề. Lưu vực sông Đồng Nai bao phủ một phần Saigon và Đông Nam Bộ nơi có khoảng 6 triệu cư dân sinh sống, hậu quả sẽ khôn lường và lâu dài.
Có thể nói, hầu hết các dự án và các khu công nghiệp hiện nay của Việt Nam đều ở tình trạng tương tự về môi trường. Những doanh nghiệp và các nhóm lợi ích vẫn thản nhiên hủy diệt môi trường sống chung của cộng đồng mà không gặp phải sự trừng phạt nào. Khi thảm họa môi sinh ở Formosa xảy ra, trước sự phản đối của người dân, nhà cầm quyền đã quay ra đàn áp thẳng tay và bảo vệ đến cùng cho các nhà đầu tư. Mọi việc đã quá rõ ràng.
Hệ thống khám chữa bệnh, chăm sóc bệnh nhân ung thư và tệ nạn tham nhũng, sử dụng thuốc điều trị giả ở Việt Nam.
Sẽ không cần bất cứ một báo cáo khảo sát nào khi chỉ cần mục sở thị thực trạng quá tải và hệ thống hạ tầng khám chữa, điều trị ung thư ở hai cơ sở chuyên về u bướu lớn nhất Việt Nam là bệnh viện K và bệnh viện Ung bướu trung ương HCM. Tình trạng một giường bệnh phải nằm 2- 3 người là rất bình thường và thậm chí tất cả mọi chỗ từ hành lang, gầm giường….đều chật cứng bệnh nhân tại hai bệnh viện này. Một sự kiện gần đây ồn ào trên mạng xã hội, khi người ta thấy một nữ y tá truyền thuốc cho một bệnh nhân nằm dưới gầm giường thậm chí bị kỷ luật vì các quan chức y tế “sĩ diện” nhưng đó là một thực trạng diễn ra hàng ngày ở những bệnh viện này.
Cái án 10 năm cho kẻ đứng đầu tập đoàn kinh doanh thuốc ung thư giả VN-Pharma là một trò hề luật pháp Việt Nam khi doanh nghiệp này chỉ bị kết tội trốn thuế, buôn lậu và làm giả tài liệu, con dấu…. VN Pharma là công ty dược phẩm có sự tăng trưởng kinh tế thần tốc và trở thành một trong những công ty dược sừng sỏ trong lãnh địa cung ứng dược phẩm cho các bệnh viện công và các sở y tế. Thành lập từ năm 2011, chỉ trong vòng 2 năm đã có một doanh số kinh hoàng 971 tỷ trong khi vốn điều lệ 40 tỷ vnđ. Doanh số từ các gói thầu năm 2014, chỉ riêng Sở Y tế HCM, bệnh viện chợ Rẫy và Bệnh viện Y dược HCM đã là 648 tỷ. Ai có thể làm nên kỳ tích kinh doanh này nếu không được một hậu thuẫn chính trị quá lớn ở môi trường xã hội VN “nhất hậu duệ, nhì tiền tệ, ba quan hệ”.
Tỷ lệ chữa trị ung thư thành công ở Việt Nam thấp hơn thế giới khá nhiều. Ở các nước phát triển 60-70% bệnh nhân ung thư được điều trị thành công trong khi con số này ở VN là dưới 30%. Có thể một phần nguyên nhân là không có dịch vụ công cho hệ thống tầm soát ung thư ở VN. Hầu hết mọi người đã mắc bệnh mới đi chữa khi đã là quá muộn. Nhưng chắc chắn đã có hàng ngàn người sử dụng những hộp thuốc giả của VN pharma với giá trên trời và chết trong đau đớn. Bao nhiêu gia đình đã tán gia bại sản khi phải bán nhà cửa để mua những hộp thuốc giả này? Một tội ác tày trời và hiển nhiên như vậy mà chỉ bị kết án buôn lậu.
Dược phẩm vốn là một miếng đất màu mỡ của các doanh nghiệp dược nhà nước tự múa gậy vườn hoang bấy lâu và những công ty sân sau của các ủy viên trung ương Đảng các thời kỳ cùng chia chác. Không riêng gì VN Pharma mà hầu như tất cả các hãng dược ở VN đều gian dối và nâng khống giá nhập khẩu lên nhiều lần, móc ngoặc với bác sĩ và cục quản lý Dược. Đó là lý do mà người Việt sử dụng thuốc với giá cắt cổ hơn nhiều lần so với các nước khác.
Ung thư và nhân quyền Việt Nam
Về mặt khái niệm, Nhân Quyền và bệnh ung thư là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau. Tuy nhiên, nếu như một cộng đồng bị hủy hoại sức khỏe, đối mặt với những rủi ro từ việc ô nhiễm môi trường sống, thường xuyên tiếp xúc với các sản phẩm độc hại do sự vô trách nhiệm của chính quyền, sự yếu kém của cơ quan quản lý chuyên môn cũng như những khuất tất, móc ngoặc, tham nhũng giữa các nhóm lợi ích chính quyền với doanh nghiệp hủy hoại môi sinh, sản xuất, kinh doanh thực phẩm, dược phẩm, đồ dùng có sử dụng chất gây hại cho sức khỏe, lừa dối cộng đồng, thì đó là một tội ác hiển nhiên vi phạm tới quyền sống của người dân.
Những người dân và cộng đồng bị phơi nhiễm với các nguồn xả thải độc hại, ăn uống, sử dụng thực phẩm và đồ tiêu dùng độc nhiễm bệnh, chết bởi ung thư và các chứng bệnh mãn tính trong khi họ không được cảnh báo nguy cơ, ko được hưởng các chính sách y tế cần thiết, không được đền bù thì đó có phải là việc làm phi nhân, vi phạm nhân quyền hay không? Vấn đề ở chỗ, lâu nay người dân không nhìn nhận ra quyền được sống trong một môi trường trong lành đó chính là quyền sống cơ bản nhất của Nhân Quyền con người. Không thể chấp nhận bất cứ cá nhân, doanh nghiệp hay tổ chức nào nhân danh vì điều gì mà có thể đầu độc môi sinh, môi trường và mang bệnh tật cho người khác phải gánh chịu trong khi những kẻ đó hưởng lợi trên xương máu và sức khỏe của người dân.
Vậy mà, nghịch lý đó đang phổ biến ở Việt Nam. Ung thư trở thành một trong những nguyên nhân gây tử vong cao nhất ở quốc gia đang cố gắng tăng trưởng GDP bằng mọi giá trong nhiều thập kỷ, bất chấp các hệ lụy về môi trường. Con số 315 người chết vì ung thư mỗi ngày của WHO năm 2012 là một con số khủng khiếp và nó thực sự đang bào mòn lực lượng lao động chính yếu của quốc gia cũng như để lại hậu quả to lớn đến gia đình và xã hội. Trong khi đó, những doanh nghiệp và những nhóm lợi ích tiếp tay cho quá trình đầu độc và hủy hoại môi sinh của cộng đồng thì hưởng lợi, không phải chịu trách nhiệm với những cái chết của người dân đang diễn ra hàng ngày và coi thường những chế tài xử phạt hình thức, chiếu lệ.
Nếu đặt trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, nơi mà vấn đề an sinh xã hội và y tế ở mức tệ hại, thì con số hàng trăm ngàn người chết vì ung thư mỗi năm như một hệ quả tất yếu. Có thể coi những con số này như một phong biểu kế trung và dài hạn cho các chính sách sức khỏe cộng đồng, điều kiện vệ sinh cho người dân và bảo vệ môi trường. Ở bình diện nào đó, điều này có mối quan hệ mật thiết với tình trạng Nhân quyền của người dân có được đảm bảo hay không?
Và một giải pháp Nhân quyền cho ung thư Việt Nam?
Ung thư là một căn bệnh có nhiều nguyên nhân, từ yếu tố di truyền, thói quen dinh dưỡng, sinh hoạt cho đến các môi trường sống. Tuy nhiên, chắc chắn một điều rằng, những người dân đang sống trong một bầu khí quyển đậm đặc hóa chất và uống những nguồn nước ô nhiễm nghiêm trọng thì cái chết của họ là một bằng chứng rõ ràng cho một tội ác.
Trong khi nền kinh tế hụt hơi thì con số người chết vì căn bệnh ung thư tại Việt Nam đang có mức “tăng trưởng phi mã” kinh hoàng. Rõ ràng, sự thiếu quan tâm, đầu tư và quản lý bài bản trong hệ thống bảo vệ sức khỏe người dân, việc buông lỏng quản lý trong công tác bảo vệ môi trường, thực trạng phá hoại môi sinh và tài nguyên nghiêm trọng trên qui mô toàn quốc của nền kinh tế có cái đuôi “xã hội chủ nghĩa” này là nguyên nhân cơ bản nhất cho thảm họa ung thư tại VN. Nhà cầm quyền coi việc ô nhiễm môi trường, bệnh tật và sinh mạng của những người dân như một cái giá đánh đổi để đạt được những thành tựu kinh tế ngắn hạn, những lợi ích cho các nhóm thân hữu và các con số tăng trưởng GDP trong báo cáo thường niên. Điều đó là một sự vi phạm nhân quyền nghiêm trọng và một việc làm phi nhân không thể chấp nhận.
Có bao nhiêu người đã chết từ việc sử dụng những hộp thuốc giả? Sẽ có bao nhiêu người chết vì ung thư ở những làng ung thư Việt Nam? Tương lai nào sẽ chờ đón những cộng đồng dân sống dưới những cột khói bụi và ống xả thải ở Formosa Hà Tĩnh, Nhiệt điện Vĩnh Tân hay Bauxit Tây nguyên….Tất cả họ đều có quyền được sống khỏe mạnh, được chăm sóc sức khỏe và được biết rằng số phận họ sinh ra không phải để chết bởi ung thư hay bệnh tật. Nhưng nếu họ tiếp tục cam chịu và cộng đồng tiếp tục im lặng trước những tội ác hiển hiện khắp nơi thì dân tộc này sẽ diệt vong trong tương lai không xa.
Vũng Tàu, 9.2017
Thợ gặt