BỎ MÈO

    0
    2

    Nguyen Trung Kien

    [Như một nén tâm nhang tưởng nhớ các chiến binh và thường dân Ukraina vô tội đã, đang và sẽ tiếp tục nằm xuống trong cuộc xâm lược Ukraina phi nghĩa và vô đạo trong những ngày này của Putin đại đế – kẻ đã vĩnh viễn tự đóng đinh mình lên giá nhục hình của Lịch Sử]

    *

    Kỷ niệm về cha

    Haruki Murakami

    Nguyễn Trung Kiên dịch

    The New Yorker Magazine, ngày 7 tháng Mười năm 2019

    *

    Tất nhiên, tôi có nhiều kỷ niệm về cha. Điều đó thật tự nhiên, vì chúng tôi cùng sống chung dưới một mái nhà không rộng rãi cho lắm, từ khi tôi sinh ra cho đến khi tôi rời nhà năm mười tám tuổi. Và, cũng như hầu hết trẻ em và các bậc phụ huynh, tôi tưởng tượng rằng, một số ký ức của tôi về cha, không quá nhiều, thật tràn đầy hạnh phúc. Nhưng những ký ức còn sót lại một cách sống động nhất trong tâm trí tôi bây giờ không thuộc loại nào cả; chúng liên quan đến các sự kiện thông thường hơn.

    Ví dụ như thế này:

    Khi chúng tôi đang sống ở Shukugawa (một phần của thành phố Nishinomiya, tỉnh Hyogo), một ngày nọ hai cha con đến bãi biển để bỏ một con mèo. Không phải mèo con, mà là một con mèo cái đã già. Tôi không thể nhớ được tại sao chúng tôi cần phải bỏ nó. Chúng tôi sống trong một căn nhà dành cho gia đình nhỏ với một khu vườn và rất nhiều chỗ dành cho mèo. Có lẽ đó là một con mèo hoang mà nhà tôi đã nuôi, vào thời điểm này nó đang mang thai và cha mẹ tôi cảm thấy họ không thể chăm sóc nó được nữa. Tôi không nhớ rõ lắm. Hồi ấy, bỏ mèo là chuyện thường, không ai chỉ trích. Ý định thiến mèo đực không được khuyến khích. Lúc đó, tôi đang ở lớp dưới trong trường tiểu học, tôi nghĩ đó là khoảng năm 1955, hoặc muộn hơn một chút. Gần nhà tôi là những tàn tích của một tòa nhà ngân hàng đã bị máy bay Mỹ ném bom – một trong những tàn tích vẫn còn thấy được của chiến tranh.

    Cha con tôi lên đường vào buổi chiều mùa hè để bỏ con mèo lại bãi biển. Ông đạp chiếc xe đạp của mình, còn tôi ngồi trên xe, cầm một chiếc hộp có con mèo bên trong. Chúng tôi đi dọc theo sông Shukugawa, đến bãi biển ở Koroen, đặt chiếc hộp xuống giữa những lùm cây đó, và quay về nhà mà không hề nhìn lại. Bãi biển cách nhà phải đến hai cây số.

    Về đến nhà, hai cha con xuống xe – rồi thảo luận về việc chúng tôi cảm thấy tiếc cho con mèo như thế nào, nhưng chúng tôi có thể làm được gì hơn? – và khi chúng tôi mở cửa, con mèo chúng tôi vừa bỏ rơi ở đó đã chào chúng tôi bằng tiếng meo meo thân thiện, đuôi vẫy cao. Chúng tôi đã thua nó. Bởi còn là một đứa trẻ, tôi không thể hiểu nó đã làm điều đó như thế nào. Rốt cuộc, chúng tôi đã đi xe đạp cơ mà. Cha cũng bối rối. Hai cha con đứng đó một lúc, không nói nên lời. Dần dần, ánh mắt kinh ngạc trống rỗng của cha chuyển thành sự ngưỡng mộ, và cuối cùng trở nên nhẹ nhõm. Và con mèo đã trở lại làm thú cưng của chúng tôi.

    Chúng tôi luôn nuôi mèo trong nhà, và rất thích chúng. Tôi không có anh chị em, nên mèo và sách là những người bạn thân nhất của tôi khi tôi lớn lên. Tôi thích ngồi trên hiên nhà phơi nắng với một con mèo. Vậy tại sao chúng tôi phải đưa con mèo đó đến bãi biển và từ bỏ nó? Tại sao tôi không phản đối? Những câu hỏi này cùng với câu hỏi về cách con mèo đã chiến thắng chúng tôi để trở về nhà vẫn chưa được trả lời.

    *

    Một kỷ niệm khác của tôi về cha là thế này:

    Mỗi buổi sớm mai, trước bữa sáng, cha sẽ ngồi rất lâu trước bàn thờ Phật trong nhà, chăm chú đọc kinh, mắt nhắm lại. Nói chính xác, đó không phải là một bàn thờ Phật thông thường, mà là một hộp kính hình trụ nhỏ với một bức tượng Bồ Tát được chạm khắc tuyệt đẹp bên trong. Tại sao cha đọc kinh mỗi sáng trước hộp kính đó, thay vì trước một bàn thờ Phật tiêu chuẩn? Đó là một trong những câu hỏi mà tôi chưa thể trả lời. 

    Dù sao đi nữa, đây rõ ràng là một nghi thức quan trọng đối với cha, một nghi thức đánh dấu sự khởi đầu mỗi ngày. Theo như tôi biết, cha không bao giờ thất bại trong việc thực hiện cái mà ông gọi là “bổn phận” này của mình, không ai được phép can thiệp. Ông thực hiện với sự tập trung cao độ. Đơn giản chỉ cần gọi đó là “một thói quen hàng ngày”.

    Một lần, khi còn là một đứa trẻ, tôi đã hỏi cha rằng ông đang cầu nguyện cho ai. Ông trả lời rằng mình đang cầu nguyện những người đã chết trong chiến tranh. Những người lính Nhật Bản đồng đội của ông đã hi sinh, cũng như người lính Trung Quốc vốn là kẻ thù của họ. Cha không giải thích, và tôi cũng không gạn hỏi. Tôi nghĩ rằng nếu cứ gạn hỏi, có thể cha sẽ mở lòng hơn. Nhưng tôi đã không làm thế. Hẳn phải có một cái gì đó trong tôi ngăn cản tôi tiếp tục tục câu chuyện này.

    *

    Tôi cần giải thích một chút về xuất xứ của cha. Ông nội tôi, Benshiki Murakami, sinh ra trong một gia đình thuần nông ở tỉnh Aichi. Giống như các cậu bé khác, ông được gửi đến một ngôi chùa gần đó để đào tạo thành một tu sĩ. Ông là một học sinh chăm chỉ, và sau khi học nghề tại nhiều ngôi chùa khác nhau, ông được bổ nhiệm làm trụ trì của chùa Anyoji, ở Kyoto. Ngôi chùa này có bốn hoặc năm trăm gia đình trong giáo xứ của nó, vì vậy đây là một bước tiến dài đối với ông.

    Tôi lớn lên ở khu vực Osaka-Kobe, vì vậy tôi không có nhiều cơ hội đến thăm ông tại ngôi chùa ở Kyoto này, nên tôi ít có kỷ niệm về ông. Tuy nhiên, tôi hiểu ông là người tự do, không bị ngăn cấm, nổi tiếng với tình yêu dành cho rượu. Như tên ông đã ngụ ý, chữ ‘ben’ trong tên thật của ông có nghĩa là ‘tài hùng biện’; ông là tu sĩ đầy năng lực, và rõ ràng là nổi tiếng. Tôi nhớ rằng ông rất cuốn hút, với giọng nói trầm hùng. 

    Ông có sáu người con trai (không có con gái nào), và là một người khỏe mạnh, nhiệt tình, nhưng, thật đáng buồn, năm ông bảy mươi tuổi, lúc tám giờ rưỡi sáng ngày 25 tháng 8 năm 1958, ông bị tàu hỏa đâm khi đang băng qua đường ray của tuyến Keishin, kết nối giữa Kyoto (Misasagi) và Otsu, và qua đời. Đó là một tuyến giao cắt giữa đường sắt và đường bộ không có người gác, chạy dọc theo Yamada-cho, Kitahanayama, Yamashina, ở Higashiyama-ku. Một cơn bão lớn đã đổ bộ vào vùng Kinki trong ngày định mệnh này; trời đang mưa rất to, ông mang theo chiếc ô, và có lẽ ông đã không nhìn thấy con tàu chạy qua một khúc cua. Ông cũng hơi lãng tai.

    Cái đêm gia đình tôi nhận được tin ông mất, tôi nhớ rằng cha đã nhanh chóng chuẩn bị đi đến Kyoto, và mẹ tôi khóc, bám lấy ông, cầu xin: “Dù có làm gì, nhưng xin anh đừng đồng ý tiếp tục trụ trì ngôi chùa đó”. Lúc đó tôi chỉ mới chín tuổi, nhưng hình ảnh này khắc sâu trong bộ não tôi, giống như một cảnh quay đáng nhớ từ một bộ phim đen trắng. Cha im lặng gật đầu mà không biểu cảm gì. Tôi nghĩ rằng cha đã quyết định. Tôi có thể cảm nhận điều ấy.

    *

    Cha tôi sinh ngày 1 tháng 12 năm 1917, tại Awata-guchi, Sakyo-ku, ở Kyoto. Khi ông còn là một đứa trẻ, thời kỳ dân chủ Taisho yên bình đã gần đến, sau đó là cuộc Đại khủng hoảng ảm đạm, rồi tiếp theo là vũng lầy của Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai, và cuối cùng là thảm kịch của cuộc Đại chiến thế giới lần thứ Hai. Rồi tiếp đến thời kỳ hoang mang và nghèo đói của giai đoạn hậu chiến, khi thế hệ của cha phải vật lộn để sinh tồn. Như tôi đã đề cập, cha là một trong sáu anh em. Ba trong số họ đã phải đi lính và chiến đấu trong Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ Hai, và thật kỳ diệu, tất cả đã sống sót để trở về mà không phải chịu thương tích nghiêm trọng nào. Hầu như tất cả sáu người con trai đều ít nhiều đủ tư cách làm tu sĩ. Họ đã có kiểu giáo dục đó. Ví dụ, cha tôi giữ một cấp bậc thấp gần tương đương với cấp bậc trung úy thứ hai trong quân đội. Vào mùa hè, trong mùa obon bận rộn – lễ hội hàng năm để tôn vinh tổ tiên của gia đình – sáu anh em họ sẽ tập trung tại Kyoto và cùng viếng thăm giáo dân xung quanh ngôi chùa. Vào buổi tối, họ cùng nhau uống rượu. Sau khi ông tôi qua đời, có một vấn đề cấp bách là ai sẽ đảm nhận các nhiệm vụ của vị trụ trì tại chùa. Hầu hết các con trai đã kết hôn và có việc làm. Thật sự mà nói, không ai ngờ ông tôi qua đời sớm hay đột ngột như vậy. 

    Bác cả, Shimei Murakami, từng mong ước thành bác sĩ thú y, nhưng sau chiến tranh, ông đã nhận một công việc tại phòng thuế ở Osaka và bây giờ đang là phó phòng, trong khi cha tôi, người con trai thứ hai, đang dạy tiếng Nhật tại trường trung học cơ sở và trung học phổ thông Koyo Gakuin ở vùng Kansai. Các anh em khác cũng là giáo viên, hoặc đang học trong các trường cao đẳng Phật học. Hai trong số các anh em đã được các gia đình khác nhận nuôi và đã đổi tên họ, một thông lệ thời ấy. Họ đã gặp nhau để thảo luận về tình huống không ai tình nguyện nhận nhiệm vụ trụ trì này. Trở thành trụ trì của một ngôi chùa lớn như thế không phải là việc dễ dàng, và sẽ là gánh nặng lớn cho gia đình của bất kỳ ai. Hai người anh em kia biết điều này quá rõ. Và bà tôi, lúc đó là một góa phụ, là kiểu người nghiêm khắc và chín chắn; bất kỳ người vợ nào cũng cảm thấy khó khăn khi phục vụ với tư cách là vợ của người trụ trì một ngôi chùa. Mẹ tôi là con gái lớn của một gia đình thương gia có tiếng ở Senba, Osaka. Bà là một người phụ nữ sang trọng, hoàn toàn không phải là người phù hợp với tư cách là vợ của một bậc trụ trì tại Kyoto. Vì vậy, không có gì lạ khi bà bám lấy cha, trong nước mắt, cầu xin ông đừng đồng ý trụ trì ngôi chùa.

    Ít nhất theo, quan điểm của tôi, bởi là con trai của ông nội, nên cha dường như là người thẳng thắn, có trách nhiệm. Ông không thừa hưởng thói tự phụ của cha mình (ông thuộc kiểu người hay lo lắng), nhưng cách cư xử tốt bụng và cách nói chuyện của ông khiến người khác thoải mái. Ông cũng có một đức tin chân thành. Ông có thể trở thành một tu sĩ tốt, và tôi nghĩ rằng ông biết điều đó. Tôi đoán là nếu độc thân, ông sẽ không phản đối ý tưởng đó lắm. Nhưng ông có một cái gì đó khiến mình không thể tự thỏa hiệp – gia đình nhỏ của ông. 

    Cuối cùng, bác Shimei đã rời bỏ công việc của mình để nhận chức trụ trì. Shimei đồng ý trở thành tu sĩ trụ trì vì ý thức về nghĩa vụ của người con trai cả. Tôi nói ông đồng ý phần nhiều là bởi ông không có lựa chọn nào khác. Hồi đó, giáo dân có ảnh hưởng lớn hơn nhiều so với bây giờ, và có lẽ họ sẽ không để ông thoái thác trách nhiệm.

    *

    Khi còn là cậu bé, cha được cử đi học việc tại một ngôi chùa ở đâu đó tại Nara. Với sự hiểu biết của mình, lẽ ra ông đã được nhận vào cộng đồng các tu sĩ tại Nara. Tuy nhiên, sau khi học xong, ông trở về nhà tại Kyoto. Điều này rõ ràng là vì thời tiết lạnh đã ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của ông, nhưng lý do chính là dường như là ông không thể thích nghi với môi trường mới. Sau khi trở về nhà, ông vẫn sống như một đứa con trai của bố mẹ mình. Nhưng tôi có cảm giác rằng trải nghiệm cũ vẫn còn với ông, như một vết thương lòng sâu sắc. Tôi không thể chỉ ra bất kỳ bằng chứng cụ thể nào về điều này, nhưng có điều gì đó về ông khiến tôi cảm thấy như vậy.

    Bây giờ, tôi hồi tưởng lại nét biểu cảm trên khuôn mặt của cha – lúc đầu rất ngạc nhiên, rồi bị ấn tượng, sau đó nhẹ nhõm vì con mèo mà chúng tôi đã bỏ rơi đã trái ý chúng tôi để trở về nhà.

    Tôi chưa bao giờ trải nghiệm bất cứ điều gì như thế. Tôi được nuôi dạy một cách khá dễ thương – là con một trong một gia đình bình thường. Vì vậy, tôi không thể hiểu, ở mức độ thực tế hay cảm xúc, loại vết sẹo tâm linh nào có thể xảy ra khi một đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi. Tôi chỉ có thể tưởng tượng nó ở mức độ hời hợt.

    Đạo diễn người Pháp, François Truffaut, nói về việc bị buộc phải sống xa cha mẹ khi còn nhỏ. Và trong phần còn lại của cuộc đời, ông đã theo đuổi chủ đề ‘từ bỏ con cái’ này trong các bộ phim của mình. Hầu hết mọi người đều có thể có một số trải nghiệm đau buồn, dù không thể nói thành lời, nhưng cũng không thể lãng quên. 

    Cha tốt nghiệp trường trung học cơ sở Higashiyama (tương đương với một trường trung học ngày nay) vào năm 1936 và vào Trường Nghiên cứu Seizan lúc mười tám tuổi. Các sinh viên thường được miễn nghĩa vụ quân sự bốn năm, nhưng do quên chuẩn bị một số giấy tờ hành chính, nên vào năm 1938, khi mới hai mươi tuổi, ông bị gọi đi lính. Đó là một sai sót trong thủ tục hành chính, nhưng một khi sai sót đó xảy ra, bạn không thể sửa đổi theo cách của mình. Tệ quan liêu và quân đội là như thế. Mệnh lệnh phải được tuân thủ.

    *

    Cha thuộc biên chế của Trung đoàn Bộ binh 20, thuộc Sư đoàn 16 (Sư đoàn Fushimi). Hạt nhân của Sư đoàn 16 sau đó bao gồm bốn trung đoàn bộ binh: Trung đoàn bộ binh 9 (Kyoto), Trung đoàn bộ binh 20 (Fukuchiyama), Trung đoàn bộ binh 33 (thành phố Tsu, tỉnh Mie) và Trung đoàn bộ binh 38 (Nara). Không rõ tại sao cha tôi, đến từ thành phố Kyoto, lại bị chỉ định không được vào Trung đoàn 9 tại địa phương mà thay vào đó là Trung đoàn Fukuchiyama ở xa.

    Ít nhất đây là cách tôi hiểu trong thời gian dài, nhưng khi nhìn sâu hơn vào quá khứ của cha, tôi nhận thấy mình đã nhầm. Trên thực tế, cha không thuộc Trung đoàn Bộ binh 20 mà thuộc Trung đoàn vận tải 16, cũng là một phần của Sư đoàn 16. Và trung đoàn này không ở Fukuchiyama mà có đóng tại Fukakusa/Fushimi, tại thành phố Kyoto. Vậy tại sao tôi lại có ấn tượng rằng cha thuộc Trung đoàn Bộ binh 20? Tôi sẽ nói về điểm này sau. 

    Trung đoàn Bộ binh 20 được biết đến là một trong những lực lượng đầu tiên đến Nam Kinh sau khi thành phố này thất thủ. Các đơn vị quân đội từ Kyoto đến thường được nhìn nhận là có học và hòa nhã, nhưng những hành động của trung đoàn đặc biệt này đã đã khiến nó bị nhắc tới cùng với sự tàn bạo đẫm máu đến đáng ngạc nhiên. Trong một thời gian dài, tôi sợ rằng cha đã tham gia vào cuộc thảm sát Nam Kinh, và tôi miễn cưỡng điều tra các chi tiết. Ông qua đời vào tháng Tám năm 2008, ở tuổi chín mươi, nhưng tôi chưa từng hỏi, mà ông cũng chưa từng kể về điều đó.

    Cha bị gọi đi lính vào tháng 8 năm 1938. Cuộc hành quân đầy tai tiếng của Trung đoàn Bộ binh 20 vào Nam Kinh diễn ra vào năm trước, vào tháng 12 năm 1937, vì vậy cha đã bỏ lỡ gần một năm. Khi biết được điều này, đó là một sự giải thoát to lớn cho tôi, như thể một gánh nặng đã được trút bỏ.

    Sau khi tham gia khóa huận luyện thứ hai trong Trung đoàn vận tải 16, cha lên tàu chuyển quân tại cảng Ujina vào ngày 3 tháng Mười năm 1938 và đến Thượng Hải vào ngày 6 tháng Mười. Ở đó, trung đoàn của ông đã hợp với Trung đoàn Bộ binh 20. Theo thư mục thời chiến của Quân đội, Trung đoàn Vận tải 16 chủ yếu được giao nhiệm vụ tiếp tế và bảo đảm an ninh. Nếu theo dõi các lịch trình hành quân của Trung đoàn, ta sẽ thấy các lần hành quân của nó cách nhau một quãng thời gian rất xa. Đối với các đơn vị chủ yếu phải hành quân bộ, và không đủ nhiên liệu – ngựa là phương thức vận chuyển chính – thì việc hành quân hẳn đã phải cực kỳ khó khăn. Tình hình ở chiến trường thật thảm khốc: nguồn cung cấp hậu cần không thể đến đó; thiếu hụt nghiêm trọng về lương thực thực phẩm và đạn dược; quân phục nam bị rách; và tình trạng mất vệ sinh dẫn đến sự bùng phát của dịch tả và các bệnh truyền nhiễm khác. Nhật Bản, với sức mạnh hạn chế của mình, không thể kiểm soát một quốc gia rộng lớn như Trung Quốc. Mặc dù Quân đội Nhật Bản đã có thể liên tục giành quyền kiểm soát quân sự tại các thành phố, nhưng thực tế, nó không có khả năng chiếm toàn bộ các khu vực. Các cuốn hồi ký được viết bởi những người lính trong Trung đoàn Bộ binh 20 cho thấy một bức tranh rõ ràng về tình hình đáng thương đến thế nào. Quân đội vận tải thường không trực tiếp tham gia chiến đấu ở tuyến đầu, nhưng điều đó không có nghĩa là họ an toàn. Vì họ chỉ được trang bị vũ khí nhẹ (thường chỉ bằng lưỡi lê), nên khi kẻ thù tấn công từ phía sau, họ vẫn phải chịu tổn thất lớn.

    *

    Cha đã kể cho tôi về nghe cuộc chiến chỉ một lần, khi ông kể về cách đơn vị của ông xử tử một tù binh Trung Quốc. Tôi không biết lý do gì khiến ông kể với tôi điều này. Nó đã xảy ra từ rất lâu rồi, một loại ký ức dễ bị lãng quên với bối cảnh không rõ ràng. Tôi vẫn còn học lớp dưới ở trường tiểu học. Ông chỉ đơn giản kể lại vụ xử tử đã diễn ra thế nào. Mặc dù người tù binh Trung Quốc biết rằng mình sẽ bị giết, nhưng anh đã không chống cự, không tỏ ra sợ hãi, chỉ ngồi im lặng với đôi mắt nhắm nghiền. Và anh đã bị chặt đầu. Cha nói với tôi, thái độ của người đàn tù binh này thật mẫu mực. Ông dường như có sự tôn trọng sâu sắc dành cho người lính Trung Quốc này. Tôi không biết liệu ông chỉ đứng xem những người lính khác trong đơn vị mình thực hiện vụ hành quyết hay không, hay chính ông bị buộc phải trực tiếp tham gia vụ hành quyết này. Bây giờ không có cách nào để xác định liệu điều này có phải là do trí nhớ của tôi không rõ ràng hay liệu cha đã mô tả vụ việc bằng những khái niệm mơ hồ. Nhưng có một điều LÀ, rõ ràng, những trải nghiệm về cuộc hành quyết ấy đã để lại cảm giác đau khổ và dằn vặt suốt thời gian dài trong linh hồn của người từng muốn trở thành tu sĩ lại buộc phải trở thành người lính này.

    Vào thời điểm đó, không có gì lạ khi cho phép những người lính và tân binh mới thực hành giết chóc bằng cách xử tử các tù binh Trung Quốc. Tất nhiên, giết các tù binh không có vũ trang là vi phạm luật pháp quốc tế, nhưng quân đội Nhật Bản trong thời kỳ đó dường như coi việc hành quyết tù binh là điều hiển nhiên. Có khả năng các đơn vị quân đội không có đủ nguồn lực để chăm sóc các tù bình. Hầu hết các vụ hành quyết này được thực hiện bằng cách bắn chết tù nhân hoặc bằng cách đâm anh ta bằng lưỡi lê, nhưng tôi nhớ cha nói với tôi rằng vụ hành quyết đặc biệt này đã sử dụng một thanh kiếm.

    Khỏi cần phải nói, câu chuyện của cha về vụ chặt đầu máu lạnh bởi một người đàn ông với thanh kiếm này đã khắc sâu vào tâm trí còn non nớt của tôi. Nói một cách khác, gánh nặng mà cha đã phải mang – một chấn thương, theo thuật ngữ ngày nay – được truyền lại, một phần, cho tôi, con trai ông. Đó là cách mà mối liên kết giữa người với người vận hành, là cách mà lịch sử vận hành. Đó là một hành động chuyển giao và còn là một nghi lễ. Cha hầu như không nói một lời nào về những trải nghiệm thời chiến của mình. Không chắc là ông muốn nhớ vụ hành quyết này hay nói về nó. Tuy nhiên, ông hẳn phải cảm thấy có một nhu cầu cấp bách để liên hệ câu chuyện này với con trai – máu thịt của chính mình, ngay cả khi điều này có nghĩa là nó sẽ vẫn là vết thương không lành cho cả hai chúng tôi.

    *

    Trung đoàn Bộ binh 20, cùng với trung đoàn của cha, trở về Nhật Bản vào ngày 20 tháng 8 năm 1939. Sau một năm đi lính, cha tiếp tục học tại trường Seizan. Vào thời điểm đó, một lệnh gọi đi lính kéo dài hai năm, nhưng vì một số lý do, ông chỉ phục vụ trong quân đội một năm. Có lẽ quân đội đã tính đến thực tế rằng ông đã là một sinh viên trước khi bị gọi đi lính.

    Sau khi phục vụ, cha tiếp tục nhiệt tình sáng tác thơ haiku. Bài thơ này, được viết vào tháng Mười năm 1940, có lẽ được lấy cảm hứng từ chuyến viếng thăm tốt đẹp của Đoàn Thanh niên Hitler tới Nhật Bản:

    ‘Họ kêu gào, hát lên,

    để đưa con nai đến gần hơn,

    Đoàn Thanh niên Hitler’

    Về mặt cá nhân, tôi thực sự thích bài thơ haiku này, ghi lại một khoảnh khắc mơ hồ trong lịch sử thật tinh tế và khác thường. Có một sự tương phản nổi bật giữa cuộc xung đột đẫm máu ở châu Âu và con nai (có lẽ là con nai nổi tiếng ở Nara). Những thanh niên trong Đoàn Thanh niên Hitler, tận hưởng chuyến thăm ngắn ngày tới Nhật Bản, rất có thể đã bị hi sinh trong mùa Đông bại trận đầy cay đắng tại Mặt trận phía Đông.

    Tôi cũng bị cuốn hút bởi bài thơ này:

    ‘Tưởng niệm 

    ngày mất của Issa, tôi ngồi đây

    với những bài thơ buồn của chàng’

    Thế giới được mô tả thật yên tĩnh và thanh bình, nhưng vẫn có một cảm giác hỗn loạn kéo dài.

    Cha luôn yêu văn chương, và sau khi trở thành giáo viên, ông đã dành nhiều thời gian để đọc sách. Ngôi nhà của chúng tôi đầy ắp sách. Điều này có thể đã ảnh hưởng đến tôi ở tuổi thiếu niên, khi tự tôi gia tăng niềm đam mê đọc sách của mình. Cha tốt nghiệp với bằng danh dự từ Trường Seizan, và vào tháng 3 năm 1941, ông vào Khoa Văn học tại Đại học Hoàng gia Kyoto. Không hề dễ dàng để vượt qua kỳ thi tuyển sinh vào một trường hàng đầu như Đại học Hoàng gia Kyoto sau khi trải qua nền giáo dục Phật giáo để trở thành một tu sĩ. Mẹ thường nói với tôi rằng: “Cha con rất thông minh”. Tôi không biết cha thông minh thế nào. Thành thật mà nói, đó không phải là một câu hỏi mà tôi quan tâm nhiều. Đối lĩnh vực văn chương của tôi, trí thông minh ít quan trọng bằng một trực giác sắc bén. Nhưng thực tế là cha luôn đạt điểm xuất sắc ở trường.

    Ngược với cha, tôi chưa bao giờ có hứng thú học hành; điểm số của tôi mờ nhạt từ đầu đến cuối. Tôi là kiểu người háo hức theo đuổi những thứ mình quan tâm mà không để bị làm phiền với bất cứ điều gì khác. Điều đó đúng với tôi khi tôi còn là sinh viên, và đến giờ nó vẫn đúng.

    Điều này khiến cha thất vọng, cha luôn là người tôi tự so sánh với chính mình vào thời điểm ông bằng tuổi tôi. Hẳn ông đã nghĩ: “Con được sinh ra trong thời đại hòa bình này. Con có thể học bao nhiêu tùy thích, không có gì cản trở. Vậy tại sao con không thể nỗ lực nhiều hơn?” Tôi nghĩ cha muốn tôi đi theo con đường mà ông đã không thể đi trọn vẹn bởi chiến tranh.

    Nhưng tôi không thể sống theo mong đợi của cha. Tôi không bao giờ có thể tự học theo cách cha mong muốn. Tôi thấy hầu hết các lớp học ở trường gây phiền não cho tôi, hệ thống trường học quá đồng đều và mang tính áp chế. Điều này khiến cha cảm thấy thất vọng kinh niên, và tôi cảm thấy đau khổ kinh niên (cùng với một sự tức giận nhất định mà không có lý do). Khi tôi trở thành một tiểu thuyết gia, ở tuổi ba mươi, cha thực sự hài lòng, nhưng vào thời điểm đó, mối quan hệ của chúng tôi đã trở nên xa cách và lạnh lùng.

    Ngay cả bây giờ tôi cũng mang theo bên mình cảm giác – hay có lẽ là cặn bã của cảm giác – rằng tôi là nỗi thất vọng của cha, tôi đã làm ông thất vọng. Mỗi khi hồi tưởng lại thời thiếu niên của mình, tôi lại thấy không thoải mái với mọi thứ trong nhà, bởi cảm giác tội lỗi liên tục dâng lên trong tôi tôi. Tôi vẫn gặp ác mộng khi trong giấc mơ, tôi phải làm bài kiểm tra ở trường và không thể trả lời một câu hỏi nào. Thời gian làm bài kiểm tra hết dần trong khi tôi không làm được gì cả, mặc dù tôi nhận thức rõ rằng việc trượt bài kiểm tra sẽ gây ra hậu quả lớn. Tôi thường thức dậy, đầm đìa mồ hôi lạnh.

    Nhưng, hồi đó, ôm chặt lấy bàn học, hoàn thành hết bài tập về nhà và đạt điểm cao trong các bài kiểm tra có sức hấp dẫn ít hơn nhiều so với việc đọc những cuốn sách tôi thích, nghe những bản nhạc tôi thích, chơi thể thao hoặc đánh bài với bạn bè và hẹn hò với các cô gái.

    Tất cả những gì chúng ta có thể làm là hít thở không khí của thời kỳ chúng ta sống, mang theo những gánh nặng đặc biệt của thời đại và lớn lên trong những giới hạn đó. Đó đơn giản là cách mà đời sống diễn ra.

    *

    Cha tốt nghiệp Trường Nghiên cứu Seizan vào mùa Xuân năm 1941, và vào cuối tháng Chín ông nhận được một lệnh nhập ngũ đặc biệt. Vào ngày 3 tháng Mười, ông trở lại với bộ quân phục, đầu tiên là ở Trung đoàn Bộ binh 20 (Fukuchiyama), và sau đó là Trung đoàn Vận tải 53, một phần của Sư đoàn 53.

    Năm 1940, Sư đoàn 16 đã đóng quân lâu dài ở Mãn Châu, và trong khi đó, Sư đoàn 53 ở Kyoto được tổ chức để thay thế. Rất có thể, sự nhầm lẫn của quyết định tái tổ chức đột ngột này giải thích cho lý do tại sao cha tôi ban đầu được đặt trong Trung đoàn Fukuchiyama. (Như tôi đã nói, tôi luôn bị thuyết phục nhầm rằng ông đã ở Trung đoàn Fukuchiyama ngay từ lần nhập ngũ đầu tiên). Sư đoàn 53 được gửi đến Miến Điện vào năm 1944, trong Trận Imphal, và, từ tháng Mười Hai năm 1944 đến tháng Ba năm 1945, gần như bị người Anh tàn sát hết trong Trận chiến sông Irrawaddy.

    Nhưng khá bất ngờ, vào ngày 30 tháng 11 năm 1941, cha ra quân và được phép trở lại cuộc sống dân sự. Ngày 30 tháng 11 là tám ngày trước cuộc tấn công Trân Châu Cảng. Sau cuộc tấn công đó, tôi không tin rằng quân đội sẽ đủ rộng lượng để cho ông ra quân. 

    Như cha tôi đã nói, cuộc đời của ông đã được cứu bởi một sĩ quan. Vào thời điểm đó, cha là lính binh nhất. Ông được một sĩ quan cao cấp triệu tập và nói rằng: “Cậu đang theo học tại Đại học Hoàng gia Kyoto, và sẽ phục vụ đất nước tốt hơn bằng cách tiếp tục việc học của cậu hơn là một người lính”. Liệu có một sĩ quan đủ thẩm quyền để đưa ra quyết định này? Tôi không biết. Thật khó để quan niệm rằng một sinh viên ngành nhân văn như cha tôi lại được coi là bằng cách nào đó lại có thể phục vụ đất nước bằng cách trở lại trường đại học và nghiên cứu về thơ haiku. Phải có những yếu tố khác trong chuyện này. Dù bằng cách nào, cha lại được ra quân và lại trở thành người tự do.

    Ít nhất đó là câu chuyện tôi đã nghe, hoặc đã được ký ức ghi lại, khi còn nhỏ. Thật không may, nó không phù hợp với thực tế. Hồ sơ của Đại học Hoàng gia Kyoto chỉ ra rằng cha tôi đăng ký vào Khoa văn học vào tháng 10 năm 1944. Có lẽ trí nhớ của tôi đã nhầm lẫn. Hoặc có thể mẹ tôi đã kể cho tôi câu chuyện này, và bà nhớ sai. Và bây giờ không có cách nào để xác minh đúng sai.

    Theo hồ sơ, cha vào khoa văn học của Đại học Hoàng gia Kyoto vào tháng Mưởi năm 1944 và tốt nghiệp vào tháng Chín năm 1947. Nhưng tôi không biết ông đã ở đâu, hoặc đã làm gì, trong độ tuổi từ hai mươi ba và hai mươi sáu tuổi, ba năm, sau khi ông được ra quân và trước khi ông theo học tại Đại học Hoàng gia Kyoto.

    Ngay sau khi cha tôi được ra quân, Thế chiến thứ Hai đã bùng nổ ở Thái Bình Dương. Trong suốt chiến tranh, Sư đoàn 16 và Sư đoàn 53 về cơ bản bị xóa sổ. Nếu không được thả ra, nếu phải chuyển quân cùng với một trong những đơn vị cũ của mình, ông gần như chắc chắn đã hi sinh trên chiến trường, và dĩ nhiên, bây giờ đã không có tôi. Bạn có thể gọi đó là may mắn, nhưng giữ được mạng sống của chính mình trong khi những đồng đội cũ của ông hi sinh hết đã khiến ông đau đớn và thống khổ kinh khủng. Bây giờ tôi càng hiểu lý do tại sao ông nhắm mắt lại và đọc kinh Phật mỗi sáng trong phần đời còn lại của mình.

    Vào ngày 12 tháng 6 năm 1945, sau khi vào Đại học Hoàng gia Kyoto, cha tôi nhận được thông báo nhập ngũ lần thứ ba. Lần này ông được chỉ định vào Quân đoàn Chubu 143 với tư cách là một binh nhất. Không rõ quân đoàn đóng quân ở đâu, nhưng nó vẫn ở lại Nhật Bản. Hai tháng sau, vào ngày 15 tháng 8, chiến tranh kết thúc, và vào ngày 28 tháng 10, cha tôi lại được ra quân trở lại trường đại học. Ông đã hai mươi bảy tuổi.

    Vào tháng Chín năm 1947, cha tôi đã vượt qua các kỳ thi để nhận bằng cử nhân và tiếp tục chương trình sau đại học về văn học tại Đại học Hoàng gia Kyoto. Tôi sinh vào tháng Một năm 1949. Vì tuổi tác của mình, và thực tế là ông đã kết hôn và có một đứa con, cha đã phải từ bỏ việc học trước khi hoàn thành chương trình. Để kiếm sống, ông đảm nhận vị trí giáo viên dạy tiếng Nhật tại Koyo Gakuin, ở Nishinomiya. Tôi không biết chi tiết về việc cha mẹ tôi kết hôn như thế nào. Vì họ sống cách xa nhau – một người ở Kyoto, người kia ở Osaka – nên rất có thể là một người quen biết chung đã giới thiệu họ. Mẹ đã có ý định kết hôn với một người đàn ông khác, một giáo viên âm nhạc, nhưng ông ấy đã chết trong chiến tranh. Và cửa hàng của ông ngoại tôi ở Senba, Osaka đã bị thiêu rụi trong một cuộc tấn công ném bom của quân đội Mỹ. Bà luôn nhớ những chiến binh trên tàu sân bay Grumman đang khống chế thành phố và thường dân phải chạy trốn để giữ mạng sống trên những con phố ở Osaka. Chiến tranh cũng ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của bà.

    *

    Mẹ tôi, giờ đã chín mươi sáu tuổi, cũng là một giáo viên tiếng Nhật. Sau khi tốt nghiệp khoa văn học của Trường nữ Shoin tại Osaka, bà làm giáo viên tại trường cũ, nhưng bà đã nghỉ việc khi kết hôn.

    Theo mẹ, cha thời còn trẻ đã sống một cuộc sống khá hoang dã. Những trải nghiệm thời chiến của cha lúc đó rất mới mẻ, và sự thất vọng của ông trước thực tế là cuộc sống của ông đã không diễn ra theo cách mà ông mong muốn khiến mọi thứ trở nên khó khăn. Ông đã uống rượu rất nhiều, và thỉnh thoảng đánh học sinh của mình. Nhưng khi tôi lớn lên, ông đã trở nên dịu dàng hơn nhiều. Thỉnh thoảng ông bị trầm cảm và khó chịu, và uống rượu quá nhiều (điều mà mẹ tôi thường phàn nàn), nhưng tôi không nhớ bất kỳ trải nghiệm khó chịu nào trong nhà của chúng tôi.

    Nói một cách khách quan, tôi nghĩ cha là một giáo viên xuất sắc. Khi ông qua đời, tôi rất ngạc nhiên khi có nhiều học sinh cũ của ông đến để tỏ lòng kính trọng. Họ dường như có rất nhiều tình cảm với ông. Nhiều người trong số họ đã trở thành bác sĩ, và họ chăm sóc ông rất tốt khi ông phải chiến đấu với bệnh ung thư và tiểu đường.

    Mẹ tôi hẳn là một giáo viên xuất sắc theo cách riêng của bà, và ngay cả sau khi bà sinh tôi và trở thành một người nội trợ toàn thời gian, nhiều học sinh cũ của bà vấn đến thăm. Tuy nhiên, vì một số lý do, tôi chưa bao giờ cảm thấy mình muốn trở thành giáo viên.

    *

    Khi tôi lớn lên và hình thành tính cách của riêng mình, sự bất hòa về tâm lý giữa tôi và cha trở nên rõ ràng hơn. Cả hai chúng tôi đều không thể chịu được nhau, và tuy cùng không trực tiếp nói ra, nhưng chúng tôi là hai kiểu người khác nhau. 

    Sau khi tôi kết hôn và bắt đầu đi làm, cha và tôi ngày càng xa cách hơn. Và khi tôi trở thành một nhà văn chuyên nghiệp, mối quan hệ của chúng tôi đã trở nên rắc rối đến mức cuối cùng chúng tôi đã cắt đứt gần như mọi liên lạc. Chúng tôi đã không gặp nhau trong hơn hai mươi năm và chỉ nói chuyện khi thật cần thiết.

    Cha và tôi đã sinh ra trong các thời đại và môi trường khác nhau, và cách suy nghĩ, nhìn nhận thế giới của chúng tôi quá khác nhau. Nếu tại một thời điểm nhất định nào đó trong quá khứ, khi tôi quyết tâm hàn gắn mối quan hệ của hai cha con, mọi thứ có thể đã đi theo một hướng khác, nhưng tôi đã quá tập trung nỗ lực vào những gì tôi muốn.

    Cha và tôi cuối cùng cũng đã nói chuyện trực tiếp với nhau ngay trước khi ông qua đời. Tôi đã gần sáu mươi, cha tôi chín mươi. Ông đang điều trị trong một bệnh viện ở Nishijin, ở Kyoto. Ông mắc bệnh tiểu đường nặng và bệnh ung thư đang tàn phá phần lớn cơ thể ông. Mặc dù trước kia mập mạp, nhưng giờ ông rất hốc hác. Tôi hầu như không nhận ra ông. Và tại bệnh viện đó, trong những ngày cuối cùng của cuộc đời, một vài ngày ít ỏi cuối cùng, cha và tôi đã nỗ lực tiến hành các cuộc đối thoại đầy khó khăn và đạt được một sự hòa giải. Bất chấp sự khác biệt giữa chúng, nhìn vào người cha hốc hác, tôi đã cảm thấy một sự kết nối, một sự ràng buộc giữa hai cha con tôi.

    Ngay cả bây giờ, tôi vẫn có thể làm sống lại sự bối rối của ngày hè đó khi chúng tôi cùng nhau đạp xe đến bãi biển ở Koroen để ruồng bỏ một con mèo vằn, một con mèo hoàn toàn có thể nhận được những điều tốt hơn từ chúng tôi. Tôi có thể nhớ lại âm thanh của sóng, mùi hương của gió rít qua hàng cây thông. Chính sự tích lũy của những thứ vụn vặt như thế đã biến tôi thành con người tôi bây giờ.

    *

    Tôi còn có thêm một ký ức tuổi thơ nữa liên quan đến một con mèo. Tôi đã đưa chi tiết này vào một trong những cuốn tiểu thuyết của mình, nhưng muốn gợi lại ký ức đó ở đây một lần nữa ở đây, như một điều gì đó đã thực sự xảy ra.

    Chúng tôi có một chú mèo con màu trắng. Tôi không nhớ chúng tôi đã có nó thế nào, bởi vì hồi đó luôn có những con mèo đến và đi trong nhà của chúng tôi. Nhưng tôi vẫn nhớ bộ lông của chú mèo con xinh xắn này dễ thương như thế nào.

    Một buổi tối, khi tôi đang ngồi trên hiên nhà, con mèo này đột nhiên chạy thẳng lên cây thông cao lớn, xinh đẹp trong khu vườn của chúng tôi. Gần như là nó muốn thể hiện với tôi rằng nó dũng cảm và nhanh nhẹn như thế nào. Tôi không thể tin được nó nhanh nhẹn đi lên thân cây và biến mất vào các cành cây trên cao. Một lúc sau, chú mèo con bắt đầu kêu meo meo một cách đáng thương, như thể nó đang cầu xin sự giúp đỡ. Nó không gặp khó khăn gì khi trèo lên cao như vậy, nhưng có vẻ sợ hãi khi trèo xuống.

    Tôi đứng dưới gốc cây nhìn lên, nhưng không thể thấy con mèo. Tôi chỉ có thể nghe thấy tiếng khóc yếu ớt của nó. Tôi gọi cha và kể ông những gì đã xảy ra, hy vọng rằng ông có thể tìm ra cách cứu chú mèo con. Nhưng ông không thể làm gì được; nó đang ở chỗ quá cao và cái thang bắc không tới. Con mèo con kêu meo meo khi Mặt Trời bắt đầu lặn. Bóng tối cuối cùng cũng bao trùm cây thông.

    Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra với con mèo nhỏ đó nữa. Sáng hôm sau, khi thức dậy, tôi không thể nghe thấy nó khóc nữa. Tôi đứng dưới gốc cây và gọi tên chú mèo con, nhưng không có hồi âm. Chỉ có sự im lặng.

    Có lẽ con mèo tự đi xuống trong đêm và đi đâu đó (nhưng ở đâu?). Hoặc có thể, không thể trèo xuống, nó đã bám vào cành cây, kiệt sức và ngày càng yếu đi cho đến khi chết. Tôi ngồi đó trên hiên nhà, nhìn lên cái cây, với những mường tượng này xuất hiện trong tâm trí. Nghĩ rằng chú mèo con nhỏ bé màu trắng đó bám lấy cuộc sống thân yêu bằng móng vuốt nhỏ bé của nó, rồi co rúm lại và chết.

    Kinh nghiệm đã dạy tôi một bài học sống động: đi xuống khó hơn nhiều so với đi lên. Để khái quát từ điều này, bạn có thể nói rằng kết quả đã áp đảo nguyên nhân và vô hiệu hóa chúng. Trong một số trường hợp, một con mèo bị chết trong quá trình này; trong những trường hợp khác, sẽ là cái chết của một con người.

    *

    Dù sao đi nữa, thực sự chỉ có một điều mà tôi muốn trình bày ở. Một sự thật rõ ràng duy nhất:

    Tôi là một người con trai bình thường của một người đàn ông bình thường. Đó là điều hiển nhiên, tôi biết. Nhưng, khi tôi bắt đầu bắt nhận được sự thật đó, tôi thấy rõ rằng mọi thứ xảy ra trong cuộc đời của cha và trong cuộc đời tôi đều là tình cờ. Chúng ta sống cuộc sống của chúng ta theo cách này: xem những điều xảy ra do ngẫu nhiên, và sự tình cờ là thực tế duy nhất có thể hiện hữu.

    Nói cách khác, hãy tưởng tượng những hạt mưa rơi trên một dải đất rộng. Mỗi người trong chúng ta là một hạt mưa vô danh giữa vô số hạt mưa khác. Chắc chắn, mỗi chúng ta là một hạt mưa riêng lẻ, nhưng đó là một thứ hoàn toàn có thể thay thế. Tuy nhiên, hạt mưa cô độc đó có những cảm xúc riêng, lịch sử riêng, nghĩa vụ riêng để tiếp tục lịch sử của nó. Ngay cả khi nó mất tính toàn vẹn cá nhân và được hấp thụ vào một cái gì đó mang tính tập thể. Hoặc có thể nói chính xác là bởi nó được hấp thụ vào một thực thể mang tính tập thể rộng lớn hơn.

    Thỉnh thoảng, tâm trí tôi đưa tôi trở về với cây thông thấp thoáng trong khu vườn nhà chúng tôi ở Shukugawa. Tôi nghĩ đến chú mèo con bé nhỏ đó, vẫn bám lấy cành cây, cơ thể nó chuyển dần thành xương trắng. Rồi tôi nghĩ về cái chết, và việc leo thẳng xuống mặt đất rất khó khăn, đến nỗi nó khiến đầu óc ta quay cuồng.  

    (Nguồn: https://www.newyorker.com/mag…/2019/10/07/abandaming-a-cat )