Tuyên ngôn bảo vệ cái quyền tự do tư tưởng

0
2
Tiến Phan
Tôi chưa đọc CVThanh và cũng không dự tính đọc, tôi nghĩ tôi cũng sẽ không thích nó. Nhưng tôi muốn đây như là tuyên ngôn bảo vệ cái quyền tự do tư tưởng, chứ không phải về một cuốn sách hay cá nhân nào cụ thể.
———*———
Vào những ngày cuối tháng Tư, một cuốn sách đã ra đời trong sự chào đón khá trân trọng của báo chí chính thống, mà trong số đó có cả tờ Nhân Dân. Sang đến đầu tháng Sáu, cũng chính cuốn sách ấy bỗng nhiên bị người ta gọi là “một cuốn sách dơ bẩn cần thu hồi, tiêu hủy”. Đến giữa tháng Sáu thì nhà xuất bản bị phạt tiền, bị đình chỉ hoạt động, sách đã in thì bị đưa vào máy nghiền giấy. Và rồi sang đầu tháng Bảy, tác giả của nó, một người từng đồng sáng lập nên tập đoàn công nghệ tư nhân lớn nhất VN FPT, đã bị bắt tạm giam theo Điều 117, ngay trong tối hôm đó, lời nhận tội của ông, khi còn đang bị giam giữ và chưa hề được đưa ra xét xử trước bất kỳ phiên tòa nào, được đem phát trong bản tin Thời sự 7 giờ tối cho cả nước cùng coi.
Nếu tính từ lúc được ngợi ca cho đến khi ngồi sau song sắt, thì một người trí thức chỉ cần đi hết quãng đường ấy trong vỏn vẹn có năm tuần lễ.
Tôi viết những dòng này không phải để bày tỏ sự thương cảm, bởi vì sự thương cảm thì ai cũng có mà chẳng làm thay đổi được điều gì. Tôi viết là để gọi tên cho đúng cái sự việc vừa diễn ra trước mắt tất cả chúng ta, bởi lẽ nó vốn có tên gọi hẳn hoi, có lịch sử hẳn hoi, thậm chí có cả một phả hệ kéo dài ngót tám mươi năm. Nó chính là đấu tố.
Trước hết, hãy cùng nhau trả lời một câu hỏi hết sức đơn giản: trong quãng thời gian từ lúc báo Đảng khen ngợi cho đến lúc cuốn sách bị nghiền nát, nó có thay đổi lấy một dấu phẩy nào hay không? Hoàn toàn không. Điều đó có nghĩa là cái phán quyết “ánh sáng” hay “dơ bẩn” kia chưa bao giờ thực sự nằm ở trong cuốn sách cả. Nó nằm ở một chỗ hoàn toàn khác, đó là ở việc kẻ nào vừa hô lên trước, và đám đông thì đang cắm đầu chạy về phía nào.
Diễn biến của nó thì ai theo dõi cũng đã thấy rõ. Một nhân vật vốn chuyên nghề tố giác đã hô lên trên Facebook rằng đây là “một cuốn sách dơ bẩn cần thu hồi, tiêu hủy”. Ngay hôm sau, tờ Nhân Dân, tức là chính tờ báo vừa mới đăng bài khen ngợi cuốn sách, đã lặng lẽ gỡ bài xuống mà không kèm theo một lời giải thích hay một dòng cải chính nào. Các tờ báo khác thấy vậy thì cũng vội vội vàng vàng gỡ theo. Các nhà sách thì tự động rút hàng khỏi kệ từ trước cả khi có bất kỳ mệnh lệnh nào được ban ra. Sau đó thì Cục Xuất bản vào cuộc, rồi cơ quan an ninh khởi tố. Điều đáng để ý là mỗi một mắt xích trong chuỗi này đều hành động không phải bởi vì họ đã đọc và tự mình đánh giá cuốn sách, mà chỉ bởi vì mắt xích đứng trước họ vừa mới hành động. Cho nên cái mà người ta gọi là “dư luận phẫn nộ” kia, kỳ thực, chỉ là một cơn giẫm đạp có định hướng, trong đó sự im lặng bị tính như tội đồng lõa, còn mỗi kẻ tham gia thì đang mua lấy sự an toàn cho bản thân mình bằng chính sự hăng hái của một kẻ tố giác.
Chuyện này vốn chẳng có gì mới mẻ. Vào năm 1958, khi cả Liên Xô được huy động để lên án Boris Pasternak vì cuốn Bác sĩ Zhivago, những người tham gia đấu tố đã để lại cho hậu thế một câu nói mà về sau trở thành bất hủ: “Tôi chưa hề đọc Pasternak, nhưng tôi lên án ông ta.” Sáu mươi tám năm sau, tại Hà Nội, người ta đã lặp lại nguyên vẹn cái cơ chế ấy, chỉ có điều là tờ Sự Thật ngày trước nay đã được thay bằng Facebook. Hóa ra sự phẫn nộ chưa bao giờ cần đến nội dung. Nó chỉ cần biết được rằng phe nào đang thắng thế mà thôi.
Bây giờ hãy nhìn kỹ hơn vào bản chất của lời buộc tội. Cho đến tận hôm nay, chưa hề có ai đứng ra chỉ rõ một cách công khai và có đối chất rằng chi tiết nào trong sách là sai, sai so với nguồn sử liệu nào, và tại sao lại sai. Không có lấy một cuộc hội thảo. Không có lấy một bài phản biện học thuật nào được phép tồn tại đủ lâu để người ta kịp tranh luận với nó. Thay vào đó chỉ có những chữ như “xúc phạm”, như “xuyên tạc”, như “dơ bẩn”. Mà đó thì không phải là ngôn ngữ của khoa học lịch sử. Đó là thứ ngôn ngữ của tôn giáo, thứ ngôn ngữ mà người ta xưa nay vẫn dành riêng cho những kẻ báng bổ thánh thần.
Và chính chỗ ấy mới là bản chất của toàn bộ câu chuyện. Ở đất nước này, lãnh tụ không phải là một nhân vật lịch sử để cho người đời nghiên cứu, mà là một vật thiêng để cho người đời thờ phụng. Tội của tác giả, do đó, không phải là ông đã viết sai điều gì. Tội của ông là ông đã dám dùng cái giọng của một con người bình thường để kể về một thứ mà bộ máy đã quyết định từ lâu rằng chỉ được phép nói đến bằng giọng khúm núm. Ở các nhà nước thần quyền, cái tội ấy được gọi là báng bổ. Ở xứ khác, nó được gọi là khi quân phạm thượng. Còn ở đây, nó được khoác cho một cái tên hành chính nghe có vẻ văn minh hơn nhiều, Điều 117.
Những ai từng chịu khó đọc lịch sử hẳn sẽ nhận ra ngay rằng toàn bộ vụ việc này diễn ra theo một kịch bản bốn bước đã quá đỗi quen thuộc: đầu tiên là một tác phẩm nào đó chạm vào vật thiêng; tiếp theo là một kẻ khởi xướng đứng ra định khung nó thành hành vi “xúc phạm”; sau đó thì báo chí và dư luận cuộn lên thành một làn sóng tự khuếch đại; và cuối cùng là nhà nước ra tay trừng trị, dĩ nhiên bao giờ cũng nhân danh “nguyện vọng của quần chúng”. Vụ Nhân Văn – Giai Phẩm hồi những năm 1956 đến 1958 đã đi đúng bốn bước như thế, để rồi kết thúc bằng những bản án tù mười lăm năm cùng những đời văn bị chôn sống suốt ba mươi năm trời; mà bộ máy thời ấy thậm chí còn trắng trợn đến mức đặt tên cho cuốn sách lên án các nạn nhân là “Bọn Nhân Văn – Giai Phẩm trước tòa án dư luận”, nghĩa là tự họ đã thú nhận rằng cái gọi là dư luận kia chẳng qua chỉ là một thứ tòa án do chính họ dựng nên. Vụ Hồ Phong bên Trung Quốc năm 1955 cũng đi đúng bốn bước như thế, khi một nhà phê bình văn học bị người ta biến thành cả một “tập đoàn phản cách mạng” kéo theo hàng nghìn con người bị bắt bớ vạ lây. Rồi đến Pasternak năm 1958, rồi đến nhà văn Phương Phương với cuốn Nhật ký Vũ Hán vào năm 2020, và bây giờ là Hà Nội của năm 2026.
Một kịch bản mà lặp đi lặp lại suốt tám mươi năm, trên khắp bốn châu lục, thì không thể nào còn là chuyện tai nạn hay ngẫu nhiên được nữa. Nó cũng chẳng phải là “sự cố đáng tiếc trong công tác xuất bản” như cách người ta vẫn quen nói giảm nói tránh. Nó chính là cách mà hệ thống này vận hành.
Đến đây thể nào cũng sẽ có người bảo rằng thì ở đâu mà chẳng có đám đông phẫn nộ, rằng bên phương Tây người ta cũng “hủy” (cancel) nhau suốt ngày đấy thôi. Đúng, đám đông phẫn nộ thì quả thật ở đâu cũng có. Nhưng xin ai đó hãy chỉ giúp tôi lấy một nền dân chủ, nơi mà cơn phẫn nộ của đám đông lại có thể kết thúc bằng máy nghiền sách và trại giam. Trong một xã hội đa nguyên, cơn phẫn nộ của nhóm này luôn luôn bị cơn phẫn nộ của nhóm khác kìm giữ lại, cho nên hậu quả tệ nhất mà một người có thể phải gánh thường chỉ là mất việc hay mất danh tiếng. Còn ở đây thì vật thiêng đã được độc quyền hóa ở tầm quốc gia, được cả một bộ luật hình sự đứng ra canh giữ, và đám đông cùng với nhà nước thì hợp lưu lại thành một dây chuyền sản xuất liền mạch: kẻ tố giác hô lên, báo của ngành công an vào cuộc định khung, cơ quan quản lý đem sách đi nghiền, rồi cơ quan an ninh mang còng đến nhà. Giữa cái gọi là “dư luận” và cái gọi là “chuyên chính” không hề tồn tại một khe hở nào cả, bởi vì chúng vốn dĩ chỉ là hai công đoạn của cùng một nhà máy.
Mà nếu ai đó vẫn còn cần thêm một bằng chứng cuối cùng để phân biệt giữa đám đông phẫn nộ với nền chuyên chính, thì bằng chứng ấy đây: nghi thức thú tội. Không có bất kỳ một nền dân chủ nào trên đời, cho dù dân chúng của nó có cuồng nộ đến đâu chăng nữa, lại có thể đem lời nhận tội của một con người đang bị giam giữ và chưa hề qua xét xử lên phát trên truyền hình quốc gia như thể một sản phẩm tuyên truyền. Từ những buổi tự phê bình ở Diên An thuở trước, qua các phiên tòa trình diễn ở Moscow, cho đến những màn thú tội trên đài truyền hình trung ương Trung Quốc ngày nay, và bây giờ là trên sóng Thời sự của chúng ta, thì đó trước sau vẫn là một thể loại riêng, một thứ chữ ký mà chỉ riêng chế độ toàn trị mới có. Đám đông, dù hung hãn đến mấy, thì cùng lắm cũng chỉ hủy diệt được danh tiếng của anh. Nhưng phải là toàn trị thì người ta mới đủ sức buộc anh tự tay ký vào bản án đạo đức dành cho chính mình, rồi đem phát nó cho cả nước cùng xem, như một lời cảnh cáo được gửi đến tận từng người một trong số họ.
So với thời Nhân Văn – Giai Phẩm thì lần này còn có thêm một điểm “tiến bộ”, mà càng ngẫm thì càng thấy nó khiến mọi chuyện tệ đi chứ chẳng hề khá lên. Ngày trước, muốn tổ chức một cuộc đấu tố thì nhà nước phải tự tay đứng ra làm lấy, vừa tốn công sức, vừa lộ mặt, lại vừa mang tiếng với đời. Còn ngày nay thì người ta chỉ cần nuôi dưỡng sẵn một hệ sinh thái gồm những kẻ tố giác chuyên nghiệp, tức là những kẻ đã biết chắc từ trước rằng lời tố giác của mình thể nào rồi cũng sẽ được phê chuẩn và được tưởng thưởng, thế là cỗ máy cứ vậy mà tự chạy. Nhà nước bấy giờ chỉ việc lùi về đứng ở cuối dây chuyền, khoan thai đóng vai một trọng tài “đáp ứng nguyện vọng của nhân dân”, còn bao nhiêu trách nhiệm thì đã có tấm áo “dư luận tự phát” khoác hộ. Nói cách khác, công việc kiểm duyệt đã được đem thuê ngoài cho chính cái xã hội bị kiểm duyệt, và theo tôi thì đó chính là phát minh quản trị đáng sợ nhất của thời đại này.
Thế nhưng hệ quả thật sự của vụ việc lại không nằm ở cuốn sách vừa bị nghiền, mà nằm ở hàng nghìn cuốn sách rồi đây sẽ không bao giờ được viết ra nữa. Bởi vì kể từ hôm nay, mỗi một người cầm bút đều đã lẳng lặng vẽ lại cái lằn ranh ở trong đầu mình, và ai nấy đều tự giác lùi thêm vài bước nữa cho chắc ăn. Thứ kiểm duyệt hiệu quả nhất xưa nay vốn không phải là thứ cấm đoán người ta viết, mà là thứ khiến cho người ta tự cấm lấy mình từ trước khi kịp đặt bút. Từ nay họ thậm chí chẳng cần phải đọc bản thảo của anh nữa, bởi vì anh đã tự nguyện biên tập giùm cho họ mất rồi.
Bây giờ mới đến câu hỏi mà tôi biết rằng rất nhiều người đang thì thầm với nhau: tại sao lại là NamNT? Một con người vốn chẳng hề đối lập, chẳng hề bất đồng, cả một đời phụng sự cho hệ thống, từng góp tay sáng lập nên niềm tự hào công nghệ của cả đất nước, và viết một cuốn sách mà mọi dấu hiệu đều cho thấy là được viết ra với thiện chí?
Câu trả lời, theo tôi, nằm ở chính chỗ đó. Chính bởi vì ông ấy trung thành, cho nên việc trừng phạt ông ấy mới có giá trị. Bỏ tù một người đối lập thì chẳng qua chỉ là xác nhận lại một đường ranh mà ai ai cũng đã biết từ lâu. Nhưng bỏ tù một người trung thành thì lại chứng minh được một điều khủng khiếp hơn thế rất nhiều, rằng trên đất nước này không hề tồn tại một vùng an toàn nào hết, rằng chẳng có sự cống hiến nào mua nổi tấm vé miễn trừ, và chẳng có địa vị nào đáng gọi là bùa hộ mệnh.
Cũng đừng quên rằng vụ bắt bớ này không hề diễn ra trong chân không. Nó diễn ra vào đúng cái lúc mà bộ máy an ninh đang từng bước nuốt dần lấy hạ tầng số quốc gia, khi mà MobiFone đã được chuyển về Bộ Công an từ tháng Hai năm ngoái, rồi toàn bộ phần vốn nhà nước tại FPT Telecom cũng về Bộ Công an từ tháng Bảy năm ngoái, tất cả đều nhân danh “an ninh dữ liệu” và “chủ quyền số”. Tôi vốn không cần đến một thuyết âm mưu nào để nối các dấu chấm ấy lại với nhau, mà nói cho đúng ra thì chẳng có âm mưu nào lại đáng sợ cho bằng cái thực tế là người ta không cần đến âm mưu: khi gương mặt sáng lập mang tính biểu tượng bậc nhất của giới công nghệ VN phải xuất hiện trên truyền hình trong tư thế cúi đầu nhận tội, thì mọi doanh nhân, mọi trí thức, mọi người làm nền tảng trên đất nước này đều nghe thấy cùng một câu nói, dẫu rằng chẳng có ai phải nói nó ra thành lời: các anh tồn tại trong một không gian do chúng tôi định đoạt. Cái không gian ấy có thể rộng rãi đấy, có thể đầy ắp cơ hội làm giàu đấy, nhưng đường biên của nó thì chưa bao giờ do các anh vẽ nên, và nó sẽ co lại vào lúc nào là hoàn toàn thuộc vào chúng tôi. Việc người sáng lập Spiderum, một nền tảng của những người trẻ tử tế, bị bắt kèm theo trong cùng vụ án chỉ càng cho thấy cái vòng răn đe đã được khép kín một cách chu đáo đến mức nào: nào tác giả, nào nhà xuất bản, nào kênh phân phối, không một mắt xích nào của đời sống tinh thần được phép bỏ sót.
Vậy thì rốt cuộc, tội thật sự của NamNT là gì? Theo tôi thì không phải là “xuyên tạc”, bởi vì cái hệ thống này vốn thừa khả năng tự tay sửa sang lại hình tượng lãnh tụ mỗi khi nó thấy cần, mà bằng chứng là Khrushchev từng hạ bệ cả Stalin mà chế độ Xô viết vẫn cứ đứng vững thêm mấy chục năm. Việc kể lại lịch sử, do đó, chưa bao giờ bị cấm tuyệt đối cả. Nó chỉ bị độc quyền mà thôi. Tội thật sự của Nguyễn Thành Nam là ông đã dám đem tư nhân hóa một công việc mà nhà nước từ lâu vẫn coi là quốc doanh, ấy là cái quyền được diễn giải quá khứ. Ông tưởng rằng lịch sử là di sản chung của cả dân tộc. Người ta bèn nhắc cho ông nhớ rằng lịch sử là tài sản riêng của bộ máy, và bài học ấy được người ta giảng bằng chiếc còng số tám.
Rồi thể nào cũng sẽ có người bảo rằng biết đâu cuốn sách ấy có những sai sót học thuật thật thì sao. Vâng, rất có thể lắm chứ. Nhưng xin hãy nhìn thẳng vào một sự thật thế này: chính họ chứ không ai khác đã đem nghiền nát toàn bộ chín nghìn bảy trăm bản sách, để cho từ nay về sau không còn một ai trong chúng ta có thể tự mình kiểm chứng lời buộc tội của họ được nữa. Họ vừa làm công tố, vừa làm thẩm phán, lại vừa làm luôn cả kẻ thủ tiêu tang vật. Một hệ thống mà phải đốt sách thì mới thắng nổi một cuộc tranh luận, thì đó là một hệ thống đang tự thú với cả thiên hạ rằng nó không còn cách nào khác để thắng. Người ta đâu có nghiền chín nghìn bảy trăm bản sách bởi vì sách sai. Người ta nghiền chúng bởi vì người ta sợ độc giả sẽ tự mình phán xét.
Lịch sử vốn có một sự trớ trêu rất mực bền bỉ. Pasternak về sau đã được phục hồi. Hồ Phong về sau cũng đã được phục hồi. Trần Dần và Phùng Quán thì chẳng những được phục hồi mà còn được trao giải thưởng của chính cái nhà nước từng nghiền nát đời họ. Cho nên vài mươi năm nữa, rất có thể sẽ đến lượt cuốn sách này được phục hồi. Nhưng xin nhớ cho rằng sự phục hồi ấy chưa bao giờ là một ân huệ, mà nó chính là bản án muộn màng dành cho những kẻ đã đấu tố. Chỉ có điều, những con người đã phải sống lay lắt qua cái quãng ở giữa, những năm tháng đã bị đánh cắp, cùng những cuốn sách đã chết non ngay trong đầu của cả một thế hệ cầm bút, thì chẳng có sắc lệnh phục hồi nào trên đời trả lại cho được.
Người ta đã nghiền thành bột một cuốn sách trong vòng sáu mươi ngày. Thế nhưng cái câu hỏi mà cuốn sách ấy đặt ra thì lại chẳng có chiếc máy nghiền nào với tới nổi, bởi vì nó đã kịp nằm lại trong đầu của chín nghìn bảy trăm người đọc, và kể từ hôm nay, nó còn nằm trong đầu của hàng triệu con người khác nữa, những người tuy chưa từng đọc cuốn sách, nhưng đã kịp hiểu ra vì sao nó phải chết.