CHỈ CÁC QUỐC GIA VÙNG VỊNH MỚI CÓ THỂ CHẤM DỨT CHIẾN TRANH IRAN

0
3
Cuộc gặp của Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian, Thư ký Hội đồng An ninh Quốc gia Tối cao Iran Mohsen Rezaei và Bộ trưởng Quốc phòng Ả Rập Saudi Khalid bin Salman tại Tehran, tháng 10 năm 2026Thông tấn xã Tây Á / Reuters

Các chế độ quân chủ Ả Rập phải giúp Washington và Tehran giữ thể diện

Tác giả: Allison Minor và Nate Swanson
Foreign Affairs – ngày 29 tháng 10 năm 2026

Allison Minor là nghiên cứu viên cao cấp thuộc Chương trình Trung Đông của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), từng giữ chức Phó Đặc phái viên Mỹ về Yemen từ năm 2021 đến 2023.

Nate Swanson là nghiên cứu viên cao cấp thường trú kiêm Giám đốc Dự án Chiến lược Iran tại Hội đồng Đại Tây Dương (Atlantic Council). Ông từng giữ chức Giám đốc phụ trách Iran tại Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ từ năm 2022 đến 2025. Mùa xuân và mùa hè năm 2025, ông tham gia nhóm đàm phán về Iran của chính quyền Trump.

Thất bại chiến lược của tất cả các bên

Đối với tất cả các bên liên quan, cuộc chiến tại Iran đã trở thành một thất bại chiến lược.

Mỹ và Israel đã chứng minh rằng họ có thể đạt được một số mục tiêu quân sự, chẳng hạn như đánh chìm hải quân Iran. Nhưng sau tám tháng giao tranh và gây sức ép, họ cũng chứng minh rằng không thể dùng vũ lực để thực hiện những tham vọng chủ yếu của mình, bao gồm thay đổi chế độ tại Iran, phá hủy chương trình hạt nhân của nước này, hay thậm chí mở lại eo biển Hormuz — tuyến đường thủy vốn không bị đóng cửa khi chiến tranh bắt đầu.

Về phần mình, Cộng hòa Hồi giáo Iran đã chứng minh rằng họ có thể sống sót qua những đợt không kích dữ dội. Tuy nhiên, Tehran không thể phá vỡ lệnh phong tỏa bóp nghẹt kinh tế của quân đội Mỹ, và cho đến nay vẫn chưa đạt được mục tiêu chấm dứt những mối đe dọa chiến tranh vô thời hạn nhằm vào Iran.

Về lý thuyết, việc cuộc chiến rơi vào thế bế tắc đau đớn đáng lẽ phải mở ra cánh cửa cho các giải pháp ngoại giao. Nhưng cả hai bên đều chứng tỏ rằng họ không có khả năng đưa ra những nhượng bộ cần thiết để đạt được thỏa thuận.

Thay vào đó, dường như cả hai đều thích duy trì hiện trạng mà ở đó hai bên cùng gây tổn thất cho nhau, tiếp tục nuôi dưỡng ảo tưởng rằng chiến thắng vẫn nằm trong tầm tay, đồng thời biện minh cho lựa chọn này bằng những tổn thất mà họ tiếp tục gây ra cho đối phương.

Kết quả là, thay vì tiến tới một thỏa thuận, cả hai bên lại đang đe dọa nối lại các cuộc tấn công.

Tuy nhiên, vẫn có một cách để Iran và Mỹ thoát khỏi cuộc xung đột mà không mất thể diện: một lệnh ngừng bắn do các quốc gia Ả Rập vùng Vịnh làm trung gian và đứng ra quản lý.

Thỏa thuận sẽ bắt đầu bằng việc các nước vùng Vịnh cung cấp hỗ trợ kinh tế cho Iran, đổi lại Iran dỡ bỏ các biện pháp hạn chế tại eo biển Hormuz.

Đổi lại, Mỹ có thể dỡ bỏ lệnh phong tỏa của chính mình.

Các quốc gia vùng Vịnh cũng phải cam kết sử dụng những biện pháp cần thiết để ngăn Washington tái khởi động các cuộc tấn công nhằm vào Iran trong tương lai.

Nhưng theo phương án này, cả Mỹ lẫn Iran đều không cần trực tiếp nhượng bộ đối phương, và mỗi bên có thể tránh những thỏa hiệp gây đau đớn nhất.

Chẳng hạn, Mỹ sẽ không phải từ bỏ chiến dịch “gây sức ép tối đa” (maximum pressure), còn Iran không phải đồng ý hạn chế chương trình hạt nhân của mình.

Sau đó, các nước vùng Vịnh có thể sử dụng đòn bẩy của mình để duy trì lệnh ngừng bắn cho đến khi các điều kiện cho phép đạt được một thỏa thuận toàn diện hơn.

Đứng ra bảo đảm một lệnh ngừng bắn sẽ khiến các nước vùng Vịnh phải gánh chịu chi phí và rủi ro thực sự, nhưng họ có lý do chính đáng để chấp nhận.

Họ đang nằm ngay trong chiến trường nơi cuộc chiến Iran diễn ra. Nếu xung đột tiếp tục vô thời hạn, nó có thể đe dọa chính những mô hình kinh tế và chính trị làm nền tảng cho sự tồn tại của các quốc gia này.

Kinh tế vùng Vịnh phụ thuộc vào xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt, trong khi họ không có cách nào hoàn toàn né tránh eo biển Hormuz khi vận chuyển năng lượng ra nước ngoài.

Những nỗ lực đa dạng hóa nền kinh tế, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch cũng dễ bị tổn thương trước các cuộc tấn công mới từ Iran.

Đạt được một lệnh ngừng bắn sẽ không dễ dàng.

Điều đó đòi hỏi các nước vùng Vịnh phải vượt qua tình trạng thiếu đoàn kết nội bộ; Iran phải ưu tiên phục hồi kinh tế và từ bỏ yêu cầu về những bảo đảm rõ ràng đối với hành vi của Mỹ; còn Mỹ phải tạo đủ không gian cho các nước vùng Vịnh đạt được thỏa thuận.

Ngay cả khi thành công, thỏa thuận cũng không giải quyết được những vấn đề căn bản thúc đẩy chiến tranh.

Nhưng trong bối cảnh các lựa chọn thay thế rất ít, đây là phương án tốt nhất — và có lẽ là duy nhất — để giảm bớt tổn thất cho tất cả các bên.

GIỮ THỂ DIỆN

Về lý thuyết, một thỏa thuận Mỹ–Iran đáng lẽ phải tương đối đơn giản.

Lịch sử đã cung cấp những khuôn mẫu cho các thỏa thuận giữa Iran và Mỹ: Tehran đồng ý hạn chế hoặc từ bỏ một hành vi cụ thể, còn Washington đổi lại bằng tiền bạc và sự công nhận.

Khuôn mẫu này có thể được áp dụng khá phù hợp vào cuộc xung đột hiện nay.

Chẳng hạn, trong Hiệp định Algiers năm 1981, Iran đồng ý trả tự do cho các nhà ngoại giao Mỹ bị bắt làm con tin, đổi lại việc được giải phóng các khoản tiền bị phong tỏa và cam kết của Mỹ không can thiệp vào công việc nội bộ của Iran.

Trong thỏa thuận hạt nhân năm 2015, Tehran chấp nhận những giới hạn nghiêm ngặt đối với chương trình hạt nhân của mình để đổi lấy việc nới lỏng trừng phạt và sự thừa nhận ngầm quyền làm giàu uranium của Iran.

Ngày nay, Iran có thể chấm dứt việc cản trở giao thông hàng hải qua eo biển Hormuz, và có thể về sau đưa ra những nhượng bộ về chương trình hạt nhân.

Đổi lại, Washington có thể dành cho Tehran một số kết hợp giữa nới lỏng trừng phạt, hỗ trợ tài chính và sự thừa nhận rằng Iran có vai trò chính thức trong việc quản lý tuyến đường thủy này.

Tuy nhiên, trên thực tế, việc đạt được sự đồng thuận như vậy sẽ vô cùng khó khăn.

Một nguyên nhân là vấn đề kỹ thuật: Iran sẽ không đưa ra những nhượng bộ hạt nhân mà Tổng thống Mỹ Donald Trump mong muốn, trong khi Mỹ sẽ không cung cấp những lợi ích tài chính trả trước, không thể đảo ngược mà Tehran yêu cầu.

Nhưng vấn đề lớn hơn nằm ở uy tín và thể diện chính trị.

Để biện minh cho cuộc chiến đầy tính phiêu lưu và quyết định rút khỏi thỏa thuận hạt nhân năm 2015, Trump muốn Tehran đưa ra những nhượng bộ sâu rộng.

Về phía Iran, nước này không muốn chấp nhận một thỏa thuận mang lại ít lợi ích hơn những gì họ từng nhận được từ Mỹ trong bản ghi nhớ thỏa thuận tháng 6 thất bại, theo đó Washington đã cam kết những biện pháp nới lỏng đáng kể.

Vì vậy, cả hai bên đều cảm thấy buộc phải duy trì đối đầu, mặc dù điều đó gây tổn hại cho chính họ.

Các nước vùng Vịnh không thể giải quyết tranh chấp về chương trình hạt nhân Iran.

Nhưng họ có thể tạo ra một nền hòa bình tương đối bằng cách giúp giải quyết những vấn đề thiết yếu khác.

Mỹ có thể không sẵn lòng trả tiền cho Iran chỉ để đổi lấy việc mở cửa eo biển Hormuz, nhưng các đối tác vùng Vịnh có đủ tiềm lực tài chính và động cơ để đưa ra những nhượng bộ kinh tế tức thời cho chính quyền Tehran.

Chẳng hạn, các nước này có thể cung cấp một hình thức viện trợ nhân đạo và tài trợ tái thiết cho Iran.

Đổi lại, Iran sẽ chấm dứt các cuộc tấn công nhằm vào tàu thuyền đi qua eo biển và các quốc gia vùng Vịnh.

Khi Iran ngừng tấn công hoạt động thương mại hàng hải, Mỹ sẽ dỡ bỏ lệnh phong tỏa của mình.

Các nước vùng Vịnh và Iran sẽ thiết lập một cơ chế tạm thời nhằm giảm nguy cơ đụng độ trên biển, thừa nhận vai trò của Iran tại eo biển nhưng không tạo ra những tiền lệ không thể chấp nhận đối với hoạt động hàng hải quốc tế.

Cơ chế này có thể yêu cầu các tàu sử dụng luồng hàng hải mà Iran ưu tiên, nhưng sẽ không chính thức hóa quyền kiểm soát của Iran đối với tuyến hàng hải.

Tuy nhiên, thỏa thuận như vậy sẽ không giải quyết được một mục tiêu cốt lõi khác của Iran: ngăn Mỹ và Israel mở lại chiến dịch quân sự.

Đây là vấn đề khó xử lý hơn.

Mỹ có thể không có một chiến lược kết thúc chiến tranh đáng tin cậy, và cuộc chiến có thể không được người dân trong nước ủng hộ. Nhưng điều đó vẫn không ngăn được một Trump khó lường lập kế hoạch cho các hành động quân sự mới.

Dù vậy, các quốc gia vùng Vịnh có thể đưa ra những bảo đảm với Iran rằng họ sẽ sử dụng ảnh hưởng đối với Washington để giúp ngăn chặn các cuộc tấn công trong tương lai.

Chẳng hạn, hồi tháng 5, Kuwait và Saudi Arabia đã tạm thời đình chỉ quyền tiếp cận, sử dụng căn cứ và quá cảnh trên không của Mỹ — những sự chấp thuận cho phép quân đội Mỹ sử dụng lãnh thổ và không phận các nước vùng Vịnh — vì lo ngại kế hoạch của Mỹ hộ tống tàu thương mại qua eo biển Hormuz.

Biện pháp này đã phát huy tác dụng: Mỹ tạm dừng chiến dịch.

Các quốc gia vùng Vịnh sẽ cần cải thiện sự đoàn kết nội bộ.

Washington có thể khó chịu trước việc phải nhường cho các nước vùng Vịnh vai trò chủ trì đàm phán với Iran.

Nhưng cuối cùng, các quan chức Mỹ vẫn có thể trình bày thỏa thuận này như một chiến thắng.

Chẳng hạn, Trump có thể rút khỏi cuộc chiến và tuyên bố với người dân Mỹ rằng ông đã cứu thế giới khỏi giá năng lượng cao, mà không phải đưa ra những nhượng bộ kinh tế và hạt nhân với Iran như chính quyền Obama từng làm trong thỏa thuận năm 2015.

Ông cũng có thể khoe những bước đi đã thực hiện để làm suy yếu Iran và, khi chưa có một thỏa thuận hạt nhân, chỉ ra rằng các biện pháp trừng phạt trong chiến dịch “gây sức ép tối đa” mà ông tự tuyên bố vẫn còn nguyên hiệu lực.

Trên thực tế, ở một số khía cạnh, một thỏa thuận do các nước vùng Vịnh làm trung gian chính là loại chính sách đối ngoại “Nước Mỹ trên hết” mà Trump đã cam kết.

Nó cho phép khu vực tự gánh vác trách nhiệm quản lý một đối thủ nguy hiểm, bao gồm cả trách nhiệm cung cấp phần lớn những nhượng bộ cần thiết.

Trump có thể đã vô tình đi đến kết quả này.

Nhưng ông vẫn có thể rời nhiệm sở với một tập hợp đồng minh được tăng cường năng lực, có khả năng tự quản lý an ninh của mình tốt hơn.

Về phía Iran, nước này không chỉ nhận được những lợi ích kinh tế đáng kể.

Tehran còn có thể thúc đẩy mục tiêu giảm ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực.

Sau cùng, nếu Israel hoặc Mỹ phá vỡ thỏa thuận trong tương lai, điều đó chỉ đẩy nhanh sự suy giảm uy tín và ảnh hưởng của Washington đối với các đối tác vùng Vịnh.

Mỹ đã khiến quan hệ với những quốc gia này trở nên căng thẳng khi phát động chiến tranh với Iran — điều mà họ không yêu cầu và đã phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng.

Vì vậy, một thỏa thuận do các nước vùng Vịnh dàn xếp sẽ cho phép Tehran tận dụng bất kỳ chiến dịch quân sự nào trong tương lai của Mỹ nhằm vào Iran để tiếp tục tạo ra rạn nứt giữa Washington và các đối tác khu vực.

Iran nhiều lần khẳng định rằng ưu tiên hàng đầu liên quan đến chiến tranh của nước này là chấm dứt cuộc chiến theo những điều kiện giúp giảm nguy cơ xung đột tái diễn.

Ở một mức độ nào đó, Iran đã đạt được tiêu chí này thông qua những tổn thất mà nước này gây ra cho kinh tế toàn cầu.

Giả sử cuộc chiến cuối cùng chấm dứt, lần tới khi một thủ tướng Israel đề nghị tổng thống Mỹ phê chuẩn cuộc tấn công Iran, vị tổng thống đó sẽ phải cân nhắc giữa sự bất ổn kinh tế toàn cầu và lợi ích an ninh của Israel.

Nếu Iran không có bước đột phá hạt nhân hoặc không tiến hành một cuộc tấn công khủng bố quy mô lớn, mối đe dọa từ Tehran có thể không đủ lớn để vượt qua những rủi ro đối với kinh tế toàn cầu.

Israel có thể hành động độc lập với Mỹ, nhưng điều đó sẽ có nguy cơ làm tổn hại thêm quan hệ Mỹ–Israel và khiến Israel phải đối mặt với sự trả đũa của Iran mà không có sự bảo vệ của Mỹ.

Tuy nhiên, khả năng răn đe này chỉ có hiệu quả sau khi cuộc chiến hiện tại kết thúc.

Nếu chiến tranh tiếp tục, Iran sẽ đánh mất sự bảo đảm an ninh trên thực tế trong tương lai mà eo biển Hormuz và yếu tố địa lý mang lại.

Cuộc xung đột càng kéo dài, nó càng có lợi cho những người tại Israel hoặc Mỹ chủ trương thay đổi chế độ ở Iran hoặc tiến hành chiến tranh vô thời hạn.

Trừ khi xuất hiện một giải pháp cho vấn đề giá năng lượng cao, giúp Trump có thể rút khỏi cuộc chiến Iran, ông sẽ tiếp tục tìm cách xoay xở, và điều đó cuối cùng có thể dẫn đến việc ông lựa chọn những phương án quân sự tấn công mạnh mẽ hơn, vốn chưa từng được thử nghiệm — và có những lý do chính đáng khiến chúng chưa được sử dụng.

PHƯƠNG ÁN TỒI TỆ NHẤT TRONG SỐ NHỮNG LỰA CHỌN CÒN LẠI

Iran và các quốc gia vùng Vịnh đã bắt đầu tìm kiếm những giải pháp khu vực cho cuộc xung đột.

Ngày 26 tháng 10, các quan chức Saudi Arabia đã đến Tehran để gặp những người đồng cấp Iran, cùng với lãnh đạo Pakistan và Thổ Nhĩ Kỳ.

Trước đó, các nước vùng Vịnh cũng lên kế hoạch gặp Iran tại Salalah, Oman, vào ngày 14 tháng 9 để thảo luận về eo biển Hormuz.

Nhưng cuộc gặp đó đã không diễn ra.

Nếu không có một giải pháp khu vực rộng lớn hơn, các nước vùng Vịnh sẽ chủ yếu theo đuổi những thỏa thuận song phương kín với Iran, nhằm ngăn chặn các cuộc tấn công trong tương lai nhằm vào tàu thuyền hoặc lãnh thổ của họ.

Những thỏa thuận này có thể giúp giảm bớt tổn thất trước mắt cho từng quốc gia vùng Vịnh, nhưng không giải quyết được nguy cơ Iran leo thang xung đột nói chung, cũng như không xử lý được những hậu quả toàn cầu bắt nguồn từ các tranh chấp liên quan đến eo biển Hormuz.

Hơn nữa, chúng cho phép Iran kích động chia rẽ và ngờ vực giữa các quốc gia vùng Vịnh, đồng thời gia tăng những đòi hỏi của chính mình.

Vì thế, để đạt được một thỏa thuận khả thi, các nước vùng Vịnh cần cải thiện sự đoàn kết nội bộ.

Điều này nói dễ hơn làm, đặc biệt trong bối cảnh căng thẳng tiếp diễn giữa hai nhân tố chủ chốt trong khu vực là Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE).

Tuy nhiên, việc khắc phục vấn đề này hoàn toàn nằm trong khả năng của các quốc gia vùng Vịnh, và nỗ lực tại Salalah cho thấy họ có một mức độ quan tâm nhất định đối với mục tiêu đó.

Cải thiện sự đoàn kết giữa các nước vùng Vịnh cũng không đòi hỏi phải giải quyết toàn bộ những căng thẳng song phương và cạnh tranh giữa các thủ đô trong khu vực.

Điều cần thiết chỉ là đạt được thỏa thuận tách riêng vấn đề Iran khỏi những bất đồng đó, để cùng giải quyết một yêu cầu cấp bách mà tất cả đều có chung.

Do vậy, các nước vùng Vịnh phải cùng thống nhất những giới hạn đỏ đối với hành vi của Iran và phối hợp cách thức thực thi chúng.

Nếu Iran tìm cách thử thách thỏa thuận hoặc đòi hỏi thêm nhượng bộ từ các chính phủ vùng Vịnh, các nước này phải cùng nhau phản ứng bằng cách đình chỉ viện trợ kinh tế hoặc hợp tác — ngay cả khi điều đó đồng nghĩa với nguy cơ phải đối mặt với sự trả đũa của Iran.

Các nước vùng Vịnh và Iran cũng sẽ phải đối mặt với một phép thử khác từ lực lượng Houthi.

Saudi Arabia có lý do chính đáng để quy trách nhiệm cho Iran về các cuộc tấn công của Houthi nhằm vào lãnh thổ nước này, bởi Iran đã giúp xây dựng năng lực cho lực lượng này, tiếp tục cung cấp hỗ trợ đáng kể về kỹ thuật và vật chất, đồng thời góp phần kích hoạt việc tái leo thang xung đột Yemen hồi tháng 7.

Tuy nhiên, Iran không kiểm soát Houthi. Vì vậy, lực lượng này sẽ không ngừng tấn công Saudi Arabia hoặc chấm dứt chiến dịch bên trong Yemen chỉ vì Tehran yêu cầu.

Do đó, Tehran cần chìa cành ô liu cho Riyadh bằng cách chứng minh rằng họ sẵn sàng hạn chế sự can dự trực tiếp vào các cuộc tấn công hiện tại của Houthi nhằm vào Saudi Arabia.

Chẳng hạn, Iran có thể đưa ra cam kết đáng tin cậy với Riyadh rằng các lực lượng dân quân Iraq được Tehran hậu thuẫn sẽ ngừng tấn công vương quốc này.

Suy cho cùng, chính các cuộc tấn công của dân quân Iraq đã khiến đường ống dẫn dầu Đông–Tây có giá trị chiến lược của Saudi Arabia phải ngừng hoạt động vào ngày 10 tháng 9.

Việc phải phòng thủ trước những cuộc tấn công từ cả phía bắc — nơi Saudi Arabia giáp Iraq — lẫn phía nam — nơi nước này giáp Yemen — càng làm phức tạp thêm nhiệm vụ phòng không vốn đã quá tải của Riyadh.

Những nỗ lực xây dựng thỏa thuận này vẫn có thể thất bại.

Ngay cả khi các nước vùng Vịnh vượt qua được chia rẽ nội bộ và gạt sang bên những lo ngại về hoạt động của Houthi, Tehran và Washington vẫn có thể từ chối tham gia.

Iran có thể kết luận rằng việc kiểm soát eo biển và khả năng bóp nghẹt các thị trường năng lượng là sự bảo đảm an ninh tốt nhất của mình.

Trong khi đó, Mỹ có thể gặp khó khăn ngay cả trong việc ngầm thừa nhận rằng cuộc chiến sẽ không mang lại kết quả như những gì các nhà lãnh đạo đã hứa hẹn.

Và ngay cả khi thỏa thuận ngừng bắn phát huy tác dụng, kết quả cũng sẽ không lý tưởng, cả đối với Mỹ lẫn các đối tác vùng Vịnh.

Thỏa thuận có thể khuyến khích Iran gia tăng quyền kiểm soát đối với eo biển, đồng thời làm suy yếu quan hệ đối tác giữa Mỹ và các quốc gia vùng Vịnh.

Tệ hơn nữa, nó không giải quyết được những vấn đề nền tảng thúc đẩy xung đột Mỹ–Iran cũng như căng thẳng giữa Iran và các nước láng giềng: chương trình hạt nhân và sự hỗ trợ của Tehran đối với các nhóm vũ trang.

Tuy nhiên, hiện nay, một thỏa thuận toàn diện về Iran là điều không khả thi.

Trong khi đó, một giải pháp do các nước vùng Vịnh làm trung gian về eo biển Hormuz thì có thể đạt được.

Trên thực tế, đây có thể là cách duy nhất để chấm dứt tình trạng bế tắc mà cả hai bên đều chịu tổn thất, một tình trạng có nguy cơ kéo dài nhiều năm và gây thiệt hại ngày càng lớn cho thị trường toàn cầu.

Những chiến lược mà các quốc gia sử dụng để giảm nhẹ hậu quả của tình trạng thiếu hụt dầu mỏ và khí đốt toàn cầu có thể bắt đầu cạn hiệu quả trong năm 2027, khi các chính phủ tiêu hao dần dự trữ chiến lược, nhu cầu của Trung Quốc gia tăng, và những tuyến cung ứng thay thế từ vùng Vịnh bị Iran tấn công.

Hậu quả kinh tế của cuộc xung đột thậm chí có thể làm suy yếu sự ổn định trong nước của những quốc gia vùng Vịnh dễ bị tổn thương nhất, hoặc làm bùng phát trở lại những cuộc xung đột cũ, như đã xảy ra tại Yemen trong năm nay.

Vì thế, một thỏa thuận do các nước vùng Vịnh làm trung gian là kết quả ít tồi tệ nhất.

Đó chính là nghịch lý của cuộc xung đột này: những bên đứng ngoài cuộc chiến nhưng đã chịu tổn thất nhiều nhất sẽ phải cứu các bên tham chiến khỏi chính họ.


Nguồn : Foreign Affairs