Nguyệt Quỳnh kể chuyện Sử
Gần nửa thế kỷ trước, vào một đêm mưa gió tôi đứng ở sân ga để đón xe trở về nhà. Bầu trời đen thẫm, gió lạnh sắt se. Thành phố tôi đang sống được gọi tên là “thành phố gió” nơi cơn gió có thể thổi bay tất cả, mà tâm hồn tôi thì đã bay mất rồi khi vừa bước ra khỏi khuôn viên trường đại học, khi bắt gặp một tia sáng vụt ngang bầu trời. Bất chợt, những câu thơ của Trần Tế Xương như tia chớp trên bầu trời, bật chợt và tình cờ, rồi cứ thế tái hiện trong đầu làm ray rứt thêm nỗi nhớ nhà trong tôi:
Trời không chớp bể cũng mưa nguồn
Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn
(Đêm hè)
Ngọn gió vô tình nào thổi tôi lạc loài tới đây? hay tại trời đất, nếu không chớp bể cũng mưa nguồn, mà bao cuộc đời chúng tôi tan tác như lá vàng trong cơn bão. Tôi chợt nhận ra dù bạn đang đứng ở Chicago, New York, London, hay một địa danh nào đó. Mưa và mưa như đêm nay, thì bất kể bạn có là người yêu thơ hay không, bạn cũng chùng lòng với nỗi niềm của Tú Xương, một người sống cách chúng ta hàng bao thế kỷ. Ông sống ở đất nước mình mà tâm hồn cũng như kẻ lưu vong nơi xứ người, có đêm nào mà không buồn!
Người ta bảo thơ ông đậm chất trào phúng, chua chát, mỉa mai mà sao tôi cứ bị chạm bởi nỗi cô đơn đằng sau những bốp chát ấy. Hay tại chúng ta có cùng nỗi đau như ông, cùng sinh ra trong thời khắc phải chứng kiến giai đoạn bi thương của đất nước. Ngày ông vừa chập chững biết đi, thực dân Pháp đã tấn công vào thành Nam Định, ít lâu sau Nam Định mất. Rồi triều đình Huế buộc phải ký kết hai Hiệp ước định mệnh: Hiệp ước Harmand (1883) và Hiệp ước Patenôtre (1884), chính thức chấm dứt nền độc lập của Việt Nam.
Tôi mất mái ấm tuổi thơ, chúng ta mất miền nam tự do, còn Tú Xương thì bơ vơ ngay trên đất nước mình. Nhưng thời của ông là thời đất nước bị thực dân chiếm đóng. Tôi tự hỏi, đã nửa thế kỷ trôi qua, có chắc rằng dân mình ngày nay đã tìm thấy mái ấm trên chính mảnh đất chôn nhau cắt rốn? nói như học giả Pliny the elder, một kỵ binh của Đế quốc La Mã cổ đại: “nhà là nơi trái tim ta thuộc về”. Mà nhà thì người ta xây bằng gạch đá, cốt sắt, bê tông nhưng mái ấm thì phải được xây bằng tình yêu, hy vọng và những giấc mơ.
Tôi đứng ở trạm xe lửa, lạnh cóng vì mưa đêm mà miên man nghĩ về nỗi niềm của nhà thơ sông Vị. Và ký ức. Ôi! ký ức có bao giờ là người bạn hiền, nó lặp đi lặp lại nỗi đau. Mỗi chuyến xe qua, mỗi chuyến xe bỏ trạm chở theo những lát cắt hiu quạnh của lòng mình:
Một mình đứng giữa cảnh trơ vơ
Có gặp ai không để đợi chờ
(Lạc Đường)
Tú Xương sống trong giai đoạn nước mất nhà tan, ông chứng kiến những phong trào kháng Pháp hình thành rồi dần dần tan rã. Từ cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng cho đến phong trào Cần Vương dẫn đến cái kết là vua Hàm Nghi bị bắt rồi bị lưu đày. Với ngòi bút trào phúng, sâu cay ông khiến người ta bật cười nhưng không khỏi chạnh lòng trước nỗi chua chát, bất lực của kẻ sĩ trước vận nước. Có lẽ vì thế, thơ ông đã chạm khắc vào tâm hồn chúng ta tự lúc nào. Tiếng gọi đò trên con sông lấp ngày xưa, nơi ông ở, vẫn đánh thức chúng ta vào nửa khuya. Nó tạo nên một sự đồng cảm mãnh liệt giữa những con người sống cách nhau hàng thế kỷ, trước những bể dâu cuộc đời:
Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai
Đêm nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò
(Sông Lấp)
Trong một lần ra bắc, chí sĩ Phan Bội Châu có dịp tìm gặp ông trước khi xuất dương sang Nhật. Cuộc gặp gỡ với người khởi xướng phong trào Đông Du đã để lại trong lòng Tú Xương nhiều cảm xúc. Một số tài liệu ghi rằng bài thơ Nhớ Bạn Phương Trời với lời lẽ thiết tha là bài thơ ông viết về cụ Phan, người đang lặn lội tận phương trời xa cho nền độc lập của nước nhà:
Ta nhớ người xa cách núi sông,
Người xa, xa lắm, nhớ ta không?
Sao đang vui vẻ ra buồn bã,
Vừa mới quen nhau đã lạ lùng.
Lúc nhớ nhớ cùng trong mộng tưởng,
Khi riêng riêng cả đến tình chung.
Tương tư lọ phải là mưa gió,
Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng.
(Nhớ Bạn Phương Trời)
Tôi cũng có một người bạn phương trời, một người anh vô cùng thân thiết dù chưa một lần được gặp mặt: nhà văn Võ Hoàng. Tôi đọc gần như hầu hết các tác phẩm của anh. Thuở ấy, Võ Hoàng và thế hệ chúng tôi có một ước mơ thật đẹp. Chúng tôi mơ một ngày đất nước được tự do để có thể trở về quê hương mình. Chúng tôi sẽ đi xây dựng nhà cửa, trường học cho các trẻ em ở vùng quê xa xôi. Bọn sinh viên chúng tôi đã chuẩn bị tinh thần cho những ngày gian khó ấy. Chúng tôi đoán chắc chỉ mười năm thôi, là chúng tôi thực hiện được mơ ước của mình. Nhưng rồi mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm qua đi, tóc trên đầu tôi bạc dần, những người bạn ngày xưa rồi khuất bóng. Thỉnh thoảng ký ức ấy vẫn trở về trong giấc ngủ như tiếng gọi đò bên sông.
Chúng tôi yêu Tú Xương, yêu cái lóng lánh của những giọt lệ trong thơ ông. Một ngày mưa xưa, trong nỗi nhớ nhà, tôi đã nhặt những hạt long lanh trong trái tim ấy. Không biết cụ Phan Bội Châu có tìm gặp lại ông lần nữa không. Nhưng dù ở thật xa đất mẹ, thật xa với ông hàng thế kỷ, chúng tôi vẫn tìm về với ông nơi căn nhà đơn sơ ở đất Vị Xuyên. Nơi ấy có một ông Tú trong những đêm dài hiu quạnh, bên ngọn đèn lẻ loi, vẫn mong gặp lại một người bạn ở tận phương trời:
Nào ai là kẻ tìm ta đó
Đốt đuốc mà soi kẻo lẫn nhà
(Đêm Dài)
—o0o—







































