Tác giả: Henry Farrell, Abraham Newman và Yeling Tan Tháng 11–12/2026. Công bố ngày 20/10/2026.
Các nhà hoạch định chính sách từng phớt lờ những điểm nghẽn. Giờ đây, họ gần như không nhìn thấy điều gì khác.
Chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump cảnh báo các đồng minh về sự phụ thuộc vào Trung Quốc, đồng thời tìm cách khai thác chính sự phụ thuộc của những đồng minh này vào Mỹ — từ thị trường, công nghệ, hệ thống tài chính cho đến chiếc ô an ninh của Washington.
Trong khi đó, Bắc Kinh cáo buộc Washington sử dụng sức ép kinh tế, nhưng đồng thời tận dụng vị thế thống trị của mình trong các chuỗi cung ứng thiết yếu để gây áp lực lên Mỹ và châu Âu.
Châu Âu hy vọng biến đồng euro thành một đồng tiền toàn cầu thay thế, nhằm thoát khỏi sự khống chế chặt chẽ của đồng đô la. Những chủ thể nhỏ hơn cũng tham gia cuộc chơi. Iran tìm cách tận dụng quyền kiểm soát eo biển Hormuz để siết chặt hoạt động thương mại dầu mỏ toàn cầu.
Nỗi ám ảnh về việc sử dụng và chống lại quyền lực từ các điểm nghẽn có vẻ mới xuất hiện, nhưng thực tế, nó đã phát triển trong suốt một phần tư thế kỷ qua, như một sản phẩm phụ của chính quá trình toàn cầu hóa.
Khi các nền kinh tế hội nhập, những điểm nghẽn ngày càng xuất hiện nhiều hơn: các nhà sản xuất mở rộng chuỗi cung ứng xuyên biên giới; các ngân hàng định tuyến giao dịch thông qua hệ thống đô la Mỹ để giảm chi phí và thời gian trì hoãn; các dịch vụ kỹ thuật số tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô, khiến thị trường cuối cùng bị thống trị bởi một số ít nền tảng.
Sau các cuộc tấn công ngày 11/9/2001, Mỹ vừa cổ súy thị trường tự do, vừa theo đuổi nỗ lực ngày càng tham vọng nhằm khai thác vị thế thống trị của mình trong những mạng lưới này: giám sát thông tin liên lạc toàn cầu và sử dụng ảnh hưởng đối với các ngân hàng trên khắp thế giới để cắt đứt những dòng tài chính hướng tới các đối thủ.
Tuy nhiên, ngay cả khi Mỹ thực hiện điều đó, phần lớn chính trị gia và lãnh đạo doanh nghiệp vẫn tiếp tục tập trung vào những hiệu quả kinh tế mà toàn cầu hóa mang lại.
Những động thái của Trump trong nhiệm kỳ đầu tiên đã khiến các nhà lãnh đạo thế giới chú ý hơn đến các điểm nghẽn. Đại dịch COVID-19 càng làm gia tăng nỗi lo của các quốc gia về sự phụ thuộc bên ngoài.
Sau đó, trong nhiệm kỳ thứ hai của Trump, Trung Quốc nhận ra rằng cách tốt nhất để ngăn chặn ông là siết chặt một điểm nghẽn.
Việc Mỹ tự tin thái quá và làm xói mòn những chuẩn mực kiềm chế cơ bản đã khiến các quốc gia khác, như Iran, bắt đầu xem xét những phương án mà trước đây họ chưa từng dám khai thác.
So với một tầm nhìn toàn cầu hóa quá lạc quan, vốn nhấn mạnh hiệu quả của sự phụ thuộc lẫn nhau, cách nhìn nền kinh tế thế giới như một hệ thống các điểm nghẽn mà các quốc gia có thể tận dụng hoặc trở thành nạn nhân có vẻ thực tế và khôn ngoan hơn.
Nhưng cách nhìn dựa trên điểm nghẽn cũng có một điểm mù nguy hiểm.
Nó khiến các nhà hoạch định chính sách tập trung vào năng lực thay vì chiến lược — ám ảnh với việc mình có đòn bẩy gì, đối thủ có đòn bẩy nào đối với mình, thay vì cân nhắc điều gì sẽ xảy ra khi nhiều quốc gia cùng lúc xây dựng quyền lực điểm nghẽn.
Kết quả là một động lực quen thuộc nhưng nguy hiểm: thế lưỡng nan an ninh, trong đó nỗ lực tự bảo vệ của một quốc gia khiến các nước khác cảm thấy bị đe dọa và đáp trả tương tự, cuối cùng làm cho tất cả đều kém an toàn hơn.
Càng tăng cường kiểm soát các điểm nghẽn hoặc tự bảo vệ trước sự cưỡng ép, các quốc gia càng có thể khiến đối thủ cảm thấy an ninh kinh tế của chính họ bị phá hoại, từ đó kích hoạt các hành động trả đũa.
Như các học giả kinh tế David Bulman và Matt Ferchen từng chỉ ra, hành động riêng lẻ của mỗi quốc gia góp phần tạo nên một cái bẫy tập thể.
Chẳng hạn, nỗ lực của Mỹ nhằm bóp nghẹt các doanh nghiệp công nghệ Trung Quốc đã thúc đẩy Trung Quốc tăng tốc phát triển công nghệ. Điều đó lại làm gia tăng nỗi lo của Mỹ về khả năng Trung Quốc thống trị.
Một vòng xoáy tự duy trì hình thành: mỗi bên tìm cách an toàn hơn lại khiến bên kia cảm thấy kém an toàn, thúc đẩy sự leo thang tiếp theo.
Thoát khỏi cái bẫy điểm nghẽn sẽ rất khó khăn, chính vì đây là vấn đề tập thể.
Bất kỳ chính phủ nào thể hiện sự kiềm chế đều có nguy cơ trở thành nạn nhân.
Mặc dù cái bẫy điểm nghẽn có những nét tương đồng với thế lưỡng nan an ninh, trong Chiến tranh Lạnh, những biện pháp cuối cùng giúp kiềm chế vòng xoáy khiêu khích quân sự chỉ được triển khai sau khi mối đe dọa chết người từ khủng hoảng tên lửa Cuba buộc các nhà lãnh đạo phải chú ý.
Nỗi ám ảnh với các điểm nghẽn có thể dẫn đến thảm họa tập thể. Nhưng các quốc gia sẽ rất khó rời khỏi chiếc thang leo thang này, đồng thời phải cân bằng giữa những lời đe dọa đáng tin cậy, những bảo đảm đáng tin cậy và việc tìm kiếm sự thấu hiểu chung.
Kịch bản có khả năng xảy ra nhất là một thế giới phân mảnh, nơi cả chính phủ lẫn các chủ thể tư nhân phải đối mặt với biến động ngày càng lớn và nguy cơ leo thang thành điều tồi tệ hơn nhiều: những cú sốc kinh tế, gián đoạn dây chuyền và thậm chí chiến tranh.
1. Chiếc bánh cóc chỉ quay theo một chiều
(ONE WAY RATCHET)
Trong thế lưỡng nan an ninh truyền thống, một bước đi mang tính phòng thủ của quốc gia này có thể bị quốc gia khác nhìn nhận như một hành động tấn công.
Một quốc gia có thể muốn duy trì quan hệ hòa bình với nước láng giềng, nhưng vẫn lo ngại rằng một nhà lãnh đạo hiếu chiến có thể lên nắm quyền ở bên kia biên giới trong tương lai.
Để phòng ngừa nguy cơ nhỏ nhưng có thật đó, quốc gia này có thể đầu tư một hệ thống vũ khí mới hoặc tăng nhẹ quy mô quân đội. Nước láng giềng có lý do để lo ngại: liệu việc tăng cường lực lượng có phải là sự chuẩn bị cho một cuộc xâm lược?
Nước láng giềng có thể tăng chi tiêu quốc phòng, khiến quốc gia ban đầu càng nghi ngờ và tiếp tục xây dựng quân đội, khởi động một vòng xoáy leo thang.
Dĩ nhiên, đôi khi các chính phủ thực sự có ý đồ hiếu chiến. Nhưng ngay cả khi tất cả các quốc gia đều chân thành mong muốn hòa bình, họ vẫn có thể rơi vào tình trạng nghi kỵ lẫn nhau và tìm cách xây dựng những lực lượng quân sự khổng lồ, tốn kém.
Trong bầu không khí thiếu lòng tin như vậy, những sai lầm vô tình rất dễ bị diễn giải sai.
Trong một tiểu luận kinh điển năm 1978 về thế lưỡng nan an ninh, nhà khoa học chính trị Robert Jervis lập luận rằng các quốc gia có thể giảm nguy cơ hiểu lầm bằng cách bảo đảm những hành động tăng cường an ninh của mình mang tính phòng thủ rõ ràng, thay vì tấn công.
Ví dụ, xây dựng công sự sâu bên trong lãnh thổ thay vì triển khai quân đội tại các căn cứ tiền phương.
Tuy nhiên, ngay cả những biện pháp phòng thủ thụ động cũng có thể làm gia tăng căng thẳng: nếu một quốc gia cảm thấy mình được bảo vệ tốt hơn trước những đòn trả đũa, các đối thủ có thể lo ngại rằng quốc gia đó sẽ thấy việc gây hấn ít rủi ro hơn.
Trong các nghiên cứu sau này, Jervis cho rằng những sự mơ hồ tương tự cũng có thể làm suy yếu an ninh kinh tế và công nghệ.
Nhưng chiến tranh kinh tế thậm chí còn có khả năng tạo ra sự leo thang ngoài dự tính cao hơn thế lưỡng nan an ninh truyền thống.
Không giống các khoản đầu tư quân sự, chính sách kinh tế thường rất khó phân loại là tấn công hay phòng thủ.
Khi Trung Quốc phát triển ngành công nghiệp bán dẫn, liệu đó chỉ đơn thuần là bảo vệ nền kinh tế trong nước, hay là gia tăng năng lực cưỡng ép các nước khác?
Chính sách công nghiệp có thể được thực hiện vì mục đích phòng thủ thuần túy — xây dựng khả năng chống chịu trước các cú sốc địa chính trị.
Nhưng nếu chính sách đó thành công trong việc tạo ra lợi thế kinh tế theo quy mô, các quốc gia khác có thể có lý do để lo ngại rằng sự thống trị công nghiệp sẽ bị chuyển hóa thành công cụ cưỡng ép.
Khi chiến tranh điểm nghẽn gặp phải bộ máy quan liêu
Các quan chức phụ trách an ninh kinh tế thường quan tâm đến việc xây dựng năng lực hơn là kiềm chế. Trong khi đó, những nhà hoạch định chính sách kinh tế truyền thống quen với việc xoa dịu thị trường trong nước hơn là trấn an đối thủ cạnh tranh, chứ chưa nói đến kẻ thù.
Các cơ quan quốc phòng có cơ cấu chỉ huy và kiểm soát chặt chẽ vì một lý do: thông tin liên lạc thiếu kỷ luật và các quyết định không đồng bộ có thể dẫn đến hậu quả thảm khốc.
Ngược lại, các thể chế hoạch định chính sách kinh tế — bao gồm ngân hàng trung ương và bộ thương mại — thường không được thiết kế để phát ngôn bằng một tiếng nói thống nhất.
Nhiều cơ quan phối hợp yếu kém, trong khi quyền hạn đáng kể được giao cho các cơ quan đầu tư và thương mại cấp địa phương.
Đôi khi, như trường hợp các ngân hàng trung ương, tính độc lập của họ còn được bảo vệ có chủ ý.
Trong khi những đơn vị quân đội được triển khai theo nhiệm vụ cụ thể không thể hành động nếu không có sự cho phép rõ ràng, phần lớn các cơ quan kinh tế có quyền tự do hành động rộng rãi mà không bị cáo buộc là vượt quyền.
Những bất đồng trong năm nay giữa Bộ Tài chính Mỹ và Cục Dự trữ Liên bang về lợi suất trái phiếu cho thấy sự tranh giành quyền lực quan liêu thông thường có thể chuyển thành xung đột công khai.
Khi các chính phủ theo đuổi chiến tranh điểm nghẽn, những vấn đề do sự mơ hồ về thể chế gây ra càng trở nên nghiêm trọng.
Tháng 9/2025, sau một loạt cuộc đàm phán kinh tế cấp cao giữa các quan chức Mỹ và Trung Quốc nhằm ổn định quan hệ song phương, Cục Công nghiệp và An ninh thuộc Bộ Thương mại Mỹ ban hành quy tắc được gọi là Affiliates Rule.
Quy tắc này mở rộng phạm vi kiểm soát xuất khẩu, bao gồm thêm các công ty con thuộc sở hữu của những thực thể nằm trong hai danh sách theo dõi của chính phủ Mỹ.
Cơ quan này công khai mô tả biện pháp là nỗ lực bịt lỗ hổng và giảm gánh nặng hành chính. Quy tắc sau đó đã bị đình chỉ.
Tuy nhiên, thời điểm ban hành khiến các bên bên ngoài không thể xác định ý nghĩa chiến lược rộng hơn.
Liệu Bộ Thương mại chỉ đang siết chặt thực thi những biện pháp kiểm soát xuất khẩu hiện hành trong một quy trình quan liêu đang tiếp diễn, hay Mỹ, như các quan chức Trung Quốc cáo buộc, đang cố tình sử dụng chiến thuật “gây sức ép tối đa” giữa các vòng đàm phán song phương?
Việc diễn giải ý định của các chế độ chuyên chế còn khó hơn, bởi các nhà hoạch định chính sách tại những chế độ này ít chịu sự giám sát của công chúng.
Chẳng hạn, ngay cả sau khi Trung Quốc cam kết nới lỏng hạn chế xuất khẩu khoáng sản đất hiếm và nam châm vào tháng 7/2025, các công ty xin giấy phép xuất khẩu vẫn gặp những trì hoãn không được giải thích.
Không rõ Trung Quốc đang cố tình phát tín hiệu về khả năng kiểm soát các chuỗi cung ứng thiết yếu, hay chỉ đơn giản gặp khó khăn trong việc xử lý hiệu quả các yêu cầu thông qua bộ máy kiểm soát xuất khẩu mới thành lập.
Các chính phủ tham gia chiến tranh kinh tế thường cố tình soạn thảo hoặc thực thi quy định một cách mơ hồ nhằm khiến các chủ thể tư nhân tuân thủ vượt mức cần thiết.
Điều này khiến các nước khác dễ diễn giải ngay cả những sai sót hành chính vô tình, sự chậm trễ và tình trạng thực thi quá mức ngoài ý muốn thành những âm mưu thù địch có chủ đích.
Những sai lầm như vậy làm sâu sắc thêm sự ngờ vực giữa các cường quốc, vốn đã có khuynh hướng đánh giá quá cao khả năng xuất hiện các mối đe dọa có chủ ý.
Ngược lại, các nhà lãnh đạo thường quá lạc quan về khả năng gây tổn thất kinh tế chính xác cho đối phương.
Dòng chảy thương mại không thể được điều hướng cẩn thận như việc dẫn đường cho máy bay không người lái tấn công các nhà máy sản xuất vũ khí.
Ngay cả những biện pháp chính xác như đưa các công ty cụ thể vào danh sách kiểm soát xuất khẩu cũng có thể không hiệu quả.
Hàng hóa bị kiểm soát vẫn có thể đến tay các công ty con hoặc những bên trung gian bí mật.
Những nỗ lực rộng khắp nhằm bịt các lỗ hổng có thể đi quá xa, đưa hàng nghìn doanh nghiệp với các mối quan hệ sở hữu phức tạp vào tầm ngắm của bộ máy an ninh kinh tế.
Tháng 10/2025, Trung Quốc một lần nữa mở rộng phạm vi kiểm soát xuất khẩu đất hiếm để trả đũa quy tắc Affiliates Rule và những nỗ lực tiếp theo của Washington nhằm hạn chế doanh nghiệp Trung Quốc tiếp cận công nghệ Mỹ.
Nếu những biện pháp này không bị đình chỉ vào tháng sau, chúng đã ảnh hưởng đến các chuỗi sản xuất trên khắp châu Âu, châu Á và Mỹ.
Các quan chức mơ tưởng đến một hình thức chiến tranh điểm nghẽn tối ưu, trong đó họ có thể sử dụng súng bắn tỉa kinh tế nhắm vào những mục tiêu được lựa chọn cẩn thận, thường phát hiện ra rằng thứ họ đang cầm trên tay thực chất là một khẩu súng săn bắn đạn chùm, với các viên đạn bay tứ phía.
Và thiệt hại ngoài dự kiến chỉ làm gia tăng nguy cơ vòng xoáy trả đũa.
2. Tất cả đều bị bóp nghẹt
(ALL CHOKED UP)
Càng nhiều quốc gia tìm cách kiểm soát những điểm nghẽn then chốt, các nước khác càng lo ngại rằng những điểm nghẽn đó sẽ bị vũ khí hóa và tìm cách tận dụng chính những điểm nghẽn của mình.
Kết quả là một thế giới đầy rẫy các điểm nghẽn và biện pháp phòng thủ, nơi mọi cường quốc vẫn cảm thấy hoàn toàn bất an.
Ngay cả những hình thức phụ thuộc lẫn nhau bình thường nhất cũng có thể bắt đầu bị xem là rủi ro an ninh mang tính sống còn.
Nói cách khác, trong một thế giới mà mọi thứ đều kết nối, gần như mọi thứ đều có thể bị xem là một điểm nghẽn.
Chẳng hạn, một dự luật được đưa ra tại Thượng viện Mỹ năm 2025 và Hạ viện năm 2026 thậm chí xác định cả lò nướng thông minh và máy sấy quần áo là những nguy cơ an ninh tiềm tàng.
Những phương pháp từng có hiệu quả trong việc hạn chế tranh chấp thương mại có thể thất bại trong chiến tranh điểm nghẽn.
Trong các cuộc chiến thuế quan truyền thống, các chính phủ thường cố gắng đáp trả tương xứng: nếu bị đánh thuế bơ, họ có thể áp thuế trả đũa lên trứng.
Nhưng việc duy trì tính tương xứng trở nên khó khăn hơn nhiều khi các rủi ro an ninh kinh tế đa dạng, những điểm nghẽn khác nhau đem lại các loại đòn bẩy khác nhau, và những quốc gia muốn trả đũa việc vũ khí hóa một mạng lưới buộc phải chuyển sang các mạng lưới khác để phản ứng.
Tháng 4/2025, khi Mỹ đe dọa áp thuế quan trên diện rộng với Trung Quốc và tăng cường kiểm soát xuất khẩu chất bán dẫn, Trung Quốc không thể trả đũa bằng một biện pháp hạn chế tương đương đối với chất bán dẫn Mỹ, bởi Bắc Kinh không kiểm soát cùng một điểm nghẽn.
Thay vào đó, Trung Quốc sử dụng lợi thế tại một nút thắt khác: đất hiếm.
Nhưng khi các quốc gia vũ khí hóa những điểm nghẽn hoàn toàn khác nhau, nằm ở trung tâm của các chuỗi cung ứng toàn cầu phức tạp, không có cách nào dễ dàng đánh giá liệu phản ứng có tương xứng với quy mô kinh tế của hành động ban đầu hay không.
Mọi ý tưởng về một chiếc thang leo thang đơn giản, mà các đối thủ có thể bước lên hoặc bước xuống, đều trở thành ảo tưởng.
Sự thay đổi công nghệ nhanh chóng và khó dự đoán khiến động lực này càng nguy hiểm.
Như Jervis từng cảnh báo, các quốc gia luôn lo ngại đổi mới công nghệ sẽ tạo ra những lợi thế lâu dài cho đối thủ.
Những lo lắng đó có thể làm trầm trọng thêm cái bẫy điểm nghẽn, thúc đẩy các quốc gia tìm cách cản trở tiến bộ của đối phương và chạy đua tăng cường tính tự chủ của chính mình.
Chính quyền Biden, dự đoán AI có thể nhanh chóng thúc đẩy tiến bộ trong nhiều lĩnh vực quân sự và dân sự, đã tìm cách cản trở sự phát triển AI của Trung Quốc bằng cách hạn chế khả năng tiếp cận các loại bán dẫn chuyên dụng.
Các quan chức chính quyền nhấn mạnh rằng mục tiêu của họ có giới hạn, mô tả cách tiếp cận đối với Trung Quốc bằng cụm từ “small yard, high fence” — phạm vi kiểm soát nhỏ, hàng rào bảo vệ cao.
Không ngạc nhiên khi Bắc Kinh bác bỏ cách diễn giải mang tính thiện chí đó và xem những động thái này là mối đe dọa đối với tương lai lâu dài của Trung Quốc.
Trung Quốc đẩy nhanh phát triển bán dẫn trong nước và khuyến khích doanh nghiệp từ bỏ dần các sản phẩm Mỹ.
Điều này khiến Mỹ mất dần ảnh hưởng đối với sự phát triển công nghệ của Trung Quốc, đồng thời có thêm lý do để lo ngại về khả năng gây hấn của Bắc Kinh trong tương lai.
3. Kẻ đi trước
(FIRST MOVER)
Sau các cuộc tấn công ngày 11/9/2001, Mỹ bắt đầu sử dụng các điểm nghẽn kinh tế và công nghệ một cách có hệ thống hơn nhiều: do thám cả đối thủ lẫn đồng minh, khai thác vị thế thống trị của đồng đô la để điều tra và áp đặt trừng phạt lên các ngân hàng và doanh nghiệp nước ngoài.
Các quan chức Mỹ bắt đầu xem sự kết nối của nền kinh tế toàn cầu là thứ có thể thao túng — nhằm răn đe đối thủ hoặc buộc các đồng minh phải tuân thủ.
Chính quyền George W. Bush và Barack Obama mở rộng các biện pháp trừng phạt nhằm bóp nghẹt nền kinh tế Iran, buộc Tehran phải ngồi vào bàn đàm phán.
Chính quyền Trump nhiệm kỳ đầu tiên đưa ra các biện pháp kiểm soát công nghệ mới để hạn chế khả năng tiếp cận chất bán dẫn tiên tiến của doanh nghiệp Trung Quốc, tạo tiền lệ cho những nỗ lực rộng hơn của chính quyền Biden nhằm cản trở sự phát triển AI của Trung Quốc.
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, các quan chức Mỹ thường ít chú ý đến những thiệt hại tích lũy về lâu dài.
Chẳng hạn, các biện pháp trừng phạt tài chính hấp dẫn vì phần lớn chi phí đổ lên những người nước ngoài bị nhắm mục tiêu và những người nước ngoài muốn giao dịch với họ.
Việc khai thác điểm nghẽn trở thành một hoạt động tự duy trì, gần như không còn mục đích nào khác ngoài việc tiếp tục tồn tại.
Một cuộc phân tích của The Washington Post năm 2024 cho thấy Mỹ áp đặt trừng phạt đối với cá nhân, tài sản hoặc tổ chức tại một phần ba số quốc gia trên thế giới.
Bill Reinsch, cựu quan chức Bộ Thương mại Mỹ, nói với tờ báo rằng các biện pháp trừng phạt đã trở thành “công cụ chính sách đối ngoại quan trọng nhất trong kho vũ khí của Mỹ”, nhưng “không ai trong chính phủ chắc chắn rằng toàn bộ chiến lược này có thực sự hiệu quả hay không”.
Tuy nhiên, Mỹ càng khai thác các điểm nghẽn theo cách đó, nước này càng kích động những biện pháp đối phó và sự bắt chước từ các quốc gia khác.
Và khi các cường quốc khác bắt đầu xây dựng năng lực điểm nghẽn của riêng mình, họ cũng không tỏ ra thận trọng hơn.
Trung Quốc chưa bao giờ ngần ngại sử dụng sức ép kinh tế để đạt mục tiêu.
Nhưng trước đây, Bắc Kinh thường đe dọa hạn chế quyền tiếp cận thị trường nội địa của mình, thay vì kiểm soát những nút thắt toàn cầu.
Hai sự kiện quan trọng đã làm thay đổi cách tiếp cận này.
Năm 2013, những tiết lộ của Edward Snowden, cựu nhà thầu Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ (NSA), cho thấy phạm vi ảnh hưởng đáng kinh ngạc của Mỹ đối với các mạng lưới thông tin toàn cầu.
Sau đó, các chiến dịch trừng phạt nặng nề của chính quyền Trump nhiệm kỳ đầu đối với các công ty viễn thông Trung Quốc ZTE và Huawei đã chứng minh sự sẵn sàng cưỡng ép của Washington.
Sau những cú sốc đó, các cuộc tranh luận về công nghệ ở Trung Quốc bắt đầu nhấn mạnh những chủ đề như “an ninh thông tin” và “tách rời”.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, người trước đây tập trung trong các bài phát biểu vào công nghiệp hóa theo nghĩa thông thường, ngày càng nhấn mạnh rằng phát triển kinh tế không thể tách rời an ninh quốc gia.
Chiến lược “tuần hoàn kép” của ông vừa nhằm giảm sự phụ thuộc vào thị trường nước ngoài, vừa giảm mức độ Trung Quốc bị phơi nhiễm trước sức ép kinh tế từ bên ngoài.
Khi Bắc Kinh nhận thức rõ hơn về tính dễ tổn thương trước công nghệ và tài chính Mỹ, nước này không chỉ tăng tốc tự chủ công nghệ mà còn tạo ra các cơ cấu chính phủ mới mô phỏng những cơ chế Washington sử dụng để nhắm vào các nước khác.
Trong đó có cơ chế kiểm soát xuất khẩu và sàng lọc an ninh đối với đầu tư trong và ngoài nước.
Trung Quốc biện minh rằng các biện pháp này nhằm tự vệ.
Nhưng nước này nhanh chóng chuyển từ những phản ứng tương xứng sang sự leo thang đối kháng mạnh mẽ.
Tháng 4/2025, khi Trump công bố các mức thuế quan “Ngày Giải phóng”, Trung Quốc không chỉ áp đặt hạn chế cấp phép xuất khẩu đất hiếm mà vài tháng sau còn cho rằng vị thế thống trị của mình trong chế biến đất hiếm đem lại quyền quản lý đối với toàn bộ chuỗi cung ứng bán dẫn.
Trung Quốc cũng cấm một số hoạt động xuất khẩu hàng hóa lưỡng dụng cho các nhà thầu quốc phòng Mỹ và các công ty công nghệ dân sự; trừng phạt các doanh nghiệp Mỹ mà Bắc Kinh cáo buộc tham gia bán vũ khí hoặc hợp tác công nghệ với quân đội Đài Loan; đồng thời mở các cuộc điều tra chống độc quyền đối với Google, Nvidia và DuPont.
Mặc dù một số biện pháp sau đó được đình chỉ hoặc chấm dứt do đàm phán với Mỹ, Trung Quốc nhiều lần chứng minh khả năng đáp trả những gì Bắc Kinh xem là hành vi cưỡng ép kinh tế từ nước ngoài.
Trong một đợt phản công khác, Bắc Kinh bắt đầu xây dựng cơ chế “ngăn chặn” nhằm trừng phạt những doanh nghiệp tuân thủ các hạn chế an ninh kinh tế của nước khác.
Các ngân hàng nước ngoài tuân thủ luật pháp Mỹ và ngừng giao dịch với một nhà máy lọc dầu Trung Quốc bị trừng phạt có thể đối mặt với nguy cơ bị kiện tại tòa án Trung Quốc trong tương lai.
Các quy định ban hành vào tháng 8 năm nay khiến doanh nghiệp Trung Quốc không được phép cung cấp thông tin hoặc giao dịch với sáu tổ chức chuyên thẩm định và đánh giá rủi ro chuỗi cung ứng, đồng thời thúc đẩy quyền lao động.
Điều này khiến các tổ chức đó khó tạo ra những bằng chứng điều tra cần thiết để doanh nghiệp toàn cầu tuân thủ luật pháp Mỹ.
4. Đi theo người dẫn đầu
(FOLLOW THE LEADER)
Đến nay, Trung Quốc đã tái định hình chính sách kinh tế xoay quanh một cách nhìn hẹp về những quan ngại an ninh quốc gia.
Và cũng giống như việc Mỹ khai thác các điểm nghẽn, những động thái của Trung Quốc nhằm dựng hàng rào bảo vệ ngày càng nhiều khu vực của nền kinh tế sẽ kích hoạt những phản ứng đối kháng và sự bắt chước gây bất ổn.
Dữ liệu từ Global Trade Alert — tổ chức giám sát độc lập theo dõi những thay đổi chính sách của chính phủ ảnh hưởng đến dòng chảy thương mại quốc tế — cho thấy các chính phủ ngày càng sẵn sàng bóp nghẹt thương mại.
Kể từ năm 2020, trung bình mỗi năm các quốc gia ban hành số lượng biện pháp hạn chế xuất khẩu cao gấp bảy lần so với giai đoạn 2010–2019.
Cái bẫy điểm nghẽn đang khép lại khi các chính phủ bị cuốn vào một mạng lưới ngày càng phức tạp của những xung đột kinh tế và công nghệ.
Châu Âu bị kẹt giữa hai cường quốc
Trong động lực này, châu Âu — nền kinh tế xét về danh nghĩa lớn hơn Trung Quốc — liên tục bị buộc phải thích nghi.
Khả năng xây dựng chiến lược an ninh kinh tế thống nhất và thiết kế các công cụ chính sách của châu Âu phát triển tốt hơn so với Bắc Kinh và Washington.
Trong vài năm qua, châu Âu đã đưa ra những sáng kiến có thể trở thành công cụ chống cưỡng ép mạnh mẽ, cho phép trả đũa trên diện rộng trước sức ép kinh tế; một chiến lược an ninh kinh tế xác định những rủi ro của chiến tranh điểm nghẽn; và Đạo luật Chip 2.0, kêu gọi duy trì vị thế của châu Âu như một “chủ thể không thể thiếu” trong các chuỗi cung ứng.
Nhưng châu Âu gặp khó khăn trong việc biến lời nói thành đòn bẩy.
Châu lục này vẫn phụ thuộc sâu sắc vào công nghệ Mỹ và các bảo đảm an ninh của Washington.
Những tham vọng kiểm soát các điểm nghẽn của riêng mình tan biến trước nguy cơ Washington có thể xé bỏ các cam kết NATO.

Reuters
Cho đến nay, châu Âu thậm chí chưa tìm cách sử dụng công cụ chống cưỡng ép của mình đối với Mỹ, bất chấp những hành động cưỡng ép lặp đi lặp lại của chính quyền Trump.
Châu Âu cũng ngày càng bị hạn chế bởi sự phụ thuộc vào Trung Quốc.
Khi EU áp thuế đối kháng đối với xe điện Trung Quốc mà khối này xác định được trợ cấp không công bằng, Trung Quốc nhanh chóng nhắm vào các ngành kinh tế thiết yếu tại những quốc gia thành viên EU.
Điều đó buộc Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen phải tiêu tốn nguồn vốn chính trị quý giá để giữ Đức và Tây Ban Nha đứng sau chính sách chung của EU.
Tháng 9/2025, khi chính phủ Hà Lan tìm cách khẳng định quyền chủ quyền đối với Nexperia, nhà sản xuất chip của Hà Lan được một công ty Trung Quốc mua lại, Bắc Kinh đã ngăn doanh nghiệp này hoàn thiện các chip tại Trung Quốc.
Điều đó gây ra khủng hoảng chuỗi cung ứng trong toàn ngành công nghiệp ô tô châu Âu.
Theo một báo cáo giữa năm 2026 của Tobias Gehrke, chuyên gia phân tích chính sách cấp cao tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại châu Âu, những lời đe dọa của Trung Quốc đang ngăn cản các quốc gia thành viên EU thậm chí cân nhắc những hành động toàn diện cần thiết để giảm sự phụ thuộc.
Mọi nỗ lực của châu Âu nhằm khẳng định quyền tự chủ chiến lược đều bị giới hạn bởi nguy cơ Mỹ hoặc Trung Quốc sẽ chia rẽ sự đoàn kết của khối.
Các quyết định an ninh quốc gia vẫn thuộc thẩm quyền của từng quốc gia thành viên, khiến EU không thể tận dụng những điểm nghẽn tiềm tàng của mình.
Châu Âu đã có những bước tiến lớn trong việc hành động tập thể để áp đặt trừng phạt đối với Nga, nhưng việc thực thi vẫn phần lớn phụ thuộc vào chính phủ các nước thành viên.
Kết quả là một khối hiểu rõ nguy cơ leo thang hơn Mỹ hoặc Trung Quốc, nhưng lại không có nhiều khả năng ngăn chặn nó.
Nhật Bản và các quốc gia nhỏ
Trong khi đó, Nhật Bản sớm nhận thức được mối đe dọa từ sự cưỡng ép của Trung Quốc và xây dựng cách tiếp cận phù hợp hơn.
Tokyo cân bằng giữa quyền tự chủ chiến lược, khả năng chống chịu trước sức ép bên ngoài và việc kiểm soát những điểm nghẽn công nghệ thiết yếu.
Nhật Bản xây dựng kho dự trữ đất hiếm quốc gia để giảm thiểu nỗ lực gây sức ép kinh tế của Trung Quốc, đồng thời khiến mình trở thành mắt xích không thể thiếu trong chuỗi cung ứng quân sự Mỹ.
Nhưng ngay cả Nhật Bản cũng cho thấy mình có thể bị cuốn hút bởi chính trị điểm nghẽn.
Năm 2019, Tokyo hạn chế khả năng tiếp cận của Hàn Quốc đối với các hóa chất bán dẫn quan trọng, để đáp trả việc Seoul theo đuổi bồi thường cho những tổn hại trong Thế chiến II.
Giờ đây, ngay cả các quốc gia nhỏ và nghèo hơn cũng bị cuốn vào vòng xoáy này.
Một số nước hưởng lợi trong ngắn hạn từ sự lan rộng của chiến tranh điểm nghẽn.
Chẳng hạn, Philippines nhận được hàng triệu đô la viện trợ từ Mỹ khi Washington tìm cách gây sức ép buộc các đồng minh ngăn Huawei tham gia hạ tầng viễn thông của họ.
Những nước khác chỉ đơn giản là bị chèn ép.
Quân đội Độc lập Kachin ở Myanmar bán dysprosium và terbium, các nguyên liệu được sử dụng trong nam châm công nghiệp, để tài trợ cho cuộc chiến chống chính quyền quân sự.
Điều này đem lại cho Trung Quốc, bên mua chính, đòn bẩy lớn hơn đối với cuộc xung đột.
Greenland, với nguồn tài nguyên thiên nhiên khổng lồ, liên tục phải đối mặt với những lời đe dọa quân sự từ Trump.
Theo thời gian, chi phí có thể vượt xa lợi ích, ngay cả đối với những quốc gia đang nhận được một số khoản lợi ích bù đắp.
Các chính phủ ở những nước nhỏ và nghèo hơn muốn có quyền tự chủ để định hướng con đường phát triển thịnh vượng cho người dân.
Nỗi ám ảnh toàn cầu về an ninh kinh tế đang khiến con đường đó trở nên khó khăn hơn.
5. Không có lối thoát
(NO WAY OUT)
Hiện nay, Mỹ và Trung Quốc đang rơi vào trạng thái cân bằng tạm thời.
Washington điều tiết việc sử dụng các điểm nghẽn vì lo ngại sự phản đòn dữ dội, còn Trung Quốc nhận thấy ít lợi ích trong việc khiêu khích trực tiếp.
Nhưng khoảnh khắc ổn định này có thể chỉ tồn tại trong thời gian ngắn.
Ngay cả sau khi Trump rời Nhà Trắng, Mỹ chắc chắn vẫn tiếp tục theo đuổi vị thế thống trị công nghệ toàn cầu và có khả năng tiếp tục nỗ lực thống trị lĩnh vực năng lượng.
Trung Quốc sẽ tiếp tục theo đuổi những chính sách nhằm âm thầm tạo ra sự phụ thuộc và làm suy yếu khả năng cưỡng ép của Mỹ.
Trong một thế giới mà các động lực luôn thúc đẩy leo thang, những trạng thái bế tắc rất mong manh.
Các cường quốc có nhiều khả năng định hình thế giới nhất hiện nay xem những điểm nghẽn như các năng lực chiến lược.
Tầm nhìn của họ hiếm khi mở rộng đến những hệ quả chiến lược từ chính hành động của mình.
Khi xây dựng năng lực tấn công và củng cố hệ thống phòng thủ, họ tự thuyết phục rằng mình đang bảo đảm an ninh quốc gia.
Nhưng trên thực tế, họ đang sa lầy vào một cuộc chạy đua vũ trang điểm nghẽn, khiến bản thân họ và tất cả những nước khác kém an toàn hơn rất nhiều.
Những sự ghen kỵ và nghi ngờ của thế lưỡng nan an ninh truyền thống đang tràn sang nền kinh tế toàn cầu.
Một thế giới mà các điểm nghẽn kinh tế đồng thời trở thành pháo đài, đồn trú và súng đạn sẽ được đặc trưng bởi xung đột kinh tế âm ỉ kéo dài và nguy cơ thường trực của những cuộc xung đột lớn hơn.
Để tìm kiếm các giải pháp rộng hơn, một số học giả và nhà tư tưởng chính sách hướng về Chiến tranh Lạnh, nhấn mạnh giá trị của việc giảm leo thang và kiềm chế lẫn nhau.
Trong thời kỳ đó, nguy cơ chiến tranh hạt nhân được giảm thiểu thông qua các cuộc gặp thường xuyên nhằm thiết lập sự hiểu biết chung về những lằn ranh đỏ và các hệ thống bảo đảm liên lạc hiệu quả khi khủng hoảng xảy ra.
Theo thời gian, những cơ chế này dẫn đến các thỏa thuận chính thức hơn, chẳng hạn các hiệp ước điều chỉnh vũ khí và hoạt động di chuyển quân đội, được giám sát bằng vệ tinh và các phương tiện khác.
Một logic an ninh dựa trên sự bảo đảm lẫn nhau, trong một số trường hợp, có thể giúp ngăn các điểm nghẽn kinh tế bị vũ khí hóa.
Chẳng hạn, Singapore đã ký các thỏa thuận với Australia và New Zealand nhằm duy trì dòng chảy hàng hóa thiết yếu giữa các nước.
Năm 2022, các thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới nhất trí không áp đặt hạn chế xuất khẩu đối với lương thực mà Chương trình Lương thực Thế giới mua phục vụ mục đích nhân đạo.
Tuy nhiên, sẽ rất khó biến những cam kết như vậy thành một hệ thống liên lạc hiệu quả và kiềm chế lẫn nhau trên quy mô lớn.
Phải đến cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba và nguy cơ bị hủy diệt bởi chiến tranh hạt nhân, các đối thủ trong Chiến tranh Lạnh mới nhận ra rằng những hành động hợp lý xét riêng lẻ có thể dẫn đến kết quả tập thể vô cùng tồi tệ.
Ngày nay, khi vòng xoáy nghi kỵ lẫn nhau tăng tốc, việc đảo ngược tình thế ngày càng trở nên khó khăn.
Càng nhiều chính phủ xây dựng các bộ máy chuyên trách xác định và kiểm soát điểm nghẽn kinh tế, logic điểm nghẽn càng trở thành lăng kính mặc định để họ hoạch định ngay cả những chính sách kinh tế thông thường.
Không phải ngẫu nhiên mà châu Âu — cường quốc ngần ngại nhất trong việc thực sự vũ khí hóa các điểm nghẽn — cũng là cường quốc ít có khả năng triển khai chúng nhất.
Cuộc chạy đua vũ trang điểm nghẽn
Khả năng cao hơn là cái bẫy điểm nghẽn sẽ ngày càng siết chặt.
Cạnh tranh quân sự từ lâu đã thúc đẩy các quốc gia xây dựng những thể chế tương tự nhau: lực lượng vũ trang, bộ máy quốc phòng và các ngành công nghiệp vũ khí trong nước.
Sự mô phỏng lẫn nhau này đã bắt đầu diễn ra trong lĩnh vực an ninh kinh tế.
Trung Quốc đang trở nên giống Mỹ hơn, xây dựng các công cụ quan liêu để tận dụng những điểm nghẽn chống lại đối thủ.
Trong khi đó, Mỹ đang bắt chước Trung Quốc, can thiệp vào nền kinh tế nội địa để tái định hình nền kinh tế theo các ưu tiên an ninh.
Liên minh châu Âu sẽ phải lựa chọn giữa việc quản lý sự trượt dốc vào tình trạng không còn quan trọng hoặc cải tổ triệt để cán cân quyền lực nội bộ để theo kịp.
Các cường quốc nhỏ hơn sẽ làm những gì có thể để mô phỏng các nước lớn, đồng thời dựa vào sự bảo vệ của họ.
Điều này sẽ gây khó khăn cho các chính phủ, nhưng còn tồi tệ hơn đối với doanh nghiệp quốc tế.
Các công ty sẽ phải điều hướng một mê cung kinh tế toàn cầu phức tạp và khó dự đoán, nơi các hệ thống thanh toán và thông tin bị phân mảnh, còn các cường quốc đối địch liên tục tìm cách buộc doanh nghiệp phục vụ mình hoặc bóp nghẹt họ đến mức biến mất.
Các tập đoàn đa quốc gia có thể chỉ còn là những thực thể thống nhất trên danh nghĩa, khi các công ty con phải đối mặt với những sức ép đối nghịch từ các chính phủ nước sở tại.
Những hiệu quả kinh tế ngày nay vốn được xem là hiển nhiên, chẳng hạn sự liền mạch của các giao dịch tài chính quốc tế, có thể biến mất khi các chính phủ đồng nhất hạ tầng toàn cầu với sự bất an của quốc gia.
Ngay cả đó cũng chưa phải kịch bản tồi tệ nhất.
Rủi ro lớn nhất mà cái bẫy điểm nghẽn tạo ra không nằm ở những khốn khó có thể dự đoán, mà ở những thảm họa không thể lường trước.
Sự nghi ngờ, hiểu lầm và cạnh tranh khốc liệt trong lĩnh vực an ninh kinh tế có thể tạo nên công thức lý tưởng dẫn tới chiến tranh.
Hãy xem xét một giả định.
Không khó để hình dung Trung Quốc áp đặt thêm các hạn chế đối với nam châm đất hiếm, làm suy yếu, trong số những lĩnh vực khác, khả năng của Mỹ trong việc tái bổ sung kho tên lửa mà cuộc chiến Iran năm nay đã làm cạn kiệt.
Dù Bắc Kinh có chủ ý tạo ra tác động đó hay không, các nhà lãnh đạo Mỹ vẫn có thể dễ dàng diễn giải hành động này như bằng chứng cho thấy Trung Quốc có kế hoạch tấn công quân sự Đài Loan trước khi Mỹ đạt được sự độc lập hoàn toàn khỏi các chuỗi cung ứng Trung Quốc.
Điều đó có thể tạo ra cảm giác cấp bách tại Washington rằng Mỹ cần ra tay trước.
Lịch sử cung cấp nhiều tiền lệ cho những kịch bản có vẻ chỉ là khả năng bên lề và tồi tệ nhất như vậy.
Trong cuốn The Economic Weapon (Vũ khí kinh tế), nhà sử học Nicholas Mulder ghi lại cách nỗi lo của các cường quốc Trục trong thập niên 1930 về những lệnh trừng phạt của Hội Quốc Liên và nguy cơ bị cô lập kinh tế đã thúc đẩy họ chiếm đoạt lãnh thổ và tài nguyên một cách quyết liệt trước khi quá muộn.
Cái bẫy điểm nghẽn đã đủ tồi tệ. Nhưng những gì nó dẫn đến có thể còn tồi tệ hơn.
Ghi chú dịch thuật: Bản dịch giữ cấu trúc, lập luận và các ví dụ của bài viết gốc. Một số thuật ngữ được chuyển ngữ theo nghĩa chuyên ngành: chokepoint là điểm nghẽn/nút thắt chiến lược; weaponization là vũ khí hóa; security dilemma là thế lưỡng nan an ninh. Các nhận định và tình huống giả định trong bài được trình bày theo lập luận của tác giả, không mặc nhiên đồng nghĩa với việc mọi sự kiện hoặc cáo buộc trong đó đã được kiểm chứng độc lập.








































