CHINH PHỤ NGÂM – LÒNG CHÀNG Ý THIẾP AI SẦU HƠN AI?

1
46

Phạm Hiền Mây

******

ĐẶNG TRẦN CÔN

Ông là tác giả của Chinh Phụ Ngâm, hay còn gọi là Chinh Phụ Ngâm Khúc, một kiệt tác của văn học Việt Nam được viết bằng chữ Hán.

Cho đến nay, tiểu sử của ông vẫn còn mù mờ. Các nghiên cứu về ông cũng chỉ phỏng đoán, ông sinh khoảng đầu thế kỷ mười tám và mất vào khoảng giữa thế kỷ này. 

Theo những dữ liệu nghiên cứu khác, thì Chinh Phụ Ngâm ra đời vào khoảng năm bốn mươi của thế kỷ mười tám. Lúc này, nội bộ Bắc Hà lủng củng trầm trọng, không khí chiến tranh bao trùm.

Bản Chinh Phụ Ngâm bằng tiếng Hán, ra đời giữa lúc chữ Nôm đang phát triển cực thịnh, thế nên rất nhiều người đã tham gia vào việc dịch thuật, phỏng dịch tác phẩm ra loại chữ đang được ưa chuộng ấy. Hiện nay, có cả thảy bảy bản dịch được lưu giữ, trong đó, có một bản dịch hay nhứt, được lưu hành rộng rãi, mà cho đến bây giờ, vẫn không sao đủ chứng cớ để có thể khẳng định một cách rõ ràng, bản dịch ấy là của bà Đoàn Thị Điểm hay của ông Phan Huy Ích.

Sinh ra trong một giai đoạn hết sức đặc biệt, phức tạp, với những tranh đấu quyền lực, giành đất chiếm đai liên miên của bọn vua chúa, Đặng Trần Côn cũng như hầu hết người dân nước Việt thời ấy, đã quá đỗi chán ngán và chán ghét chiến tranh.

Chinh Phụ Ngâm, là khúc ngâm của người vợ có chồng đi chinh chiến, kể về nỗi khổ, nỗi cô đơn khi phải xa chồng. Một khúc ngâm, mà, theo nhà nghiên cứu văn hóa Hoàng Xuân Hãn, từ quê đến thành thị, không mấy người không biết một vài câu. 

Tác phẩm được viết theo hình thức độc thoại, lối tập cổ, nhạc phủ, trường đoản cú, nghĩa là có đủ các câu dài ngắn, có câu dài hơn mười chữ, lại có những câu chỉ ba, hoặc bốn chữ. 

Tác phẩm mở đầu bằng khung cảnh của cuộc chiến tranh đang diễn ra ác liệt. Đáp lời triều đình kêu gọi, những chàng trai trẻ lên đường hộ quốc. Chinh phụ chốn quê nhà, hình dung chồng trong cuộc chiến đấu, bà mơ ước chồng mình giành được hàng loạt thành trì, dâng lên vua, trở về với chiến công lớn lao, hùng dũng trong chiếc áo bào thắm đỏ cưỡi trên lưng con ngựa sắc trắng như tuyết. Ở giai đoạn đầu này, tâm trạng của người vợ còn đậm màu lý tưởng hóa cuộc chiến. 

Sau cuộc tiễn đưa đầy lưu luyến, chinh phụ quay trở về khuê phòng, một mình. Những xúc cảm về hình ảnh oai phong, lẫm liệt ban đầu của người ra trận đã nhanh chóng qua đi, thay vào đó là nỗi sợ lo về sinh mệnh của chồng mình giữa chiến trường khốc liệt, nơi chứa đầy oan hồn, tử khí và nỗi buồn tủi khôn nguôi khi nghĩ về nỗi cô đơn, nỗi sầu lẻ bóng của mình, từ đây.

Phần độc thoại tiếp theo là tâm trạng bất an của chinh phụ, khi thấy đã quá thời hạn hẹn ước mà chồng vẫn bặt vô âm tín, vẫn chưa thấy về. Chinh phụ bắt đầu đếm thời gian bằng những chu kỳ lặp lại của tiếng quyên hót, của đào nở, của sen tàn.

Hết quanh quẩn trước hiên thì sau rèm, hết vò võ dưới đêm khuya vắng thì đối diện với hoa, với nguyệt, chinh phụ đành tìm chồng trong mộng nhưng khi thức dậy rồi lại thấy buồn hơn. Lần giở kỷ vật của chồng mong tìm chút an ủi nhưng an ủi ấy, như ngọn đèn dầu hao, chỉ le lói chút rồi tắt. Nàng ngẫm ra, mình không bằng cả đôi chim kia đương liền cánh, đôi hoa kia đương liền cành. Ngày nối ngày, niềm hy vọng hóa thành niềm tuyệt vọng, lòng chinh phụ tràn ngập khổ đau, tràn ngập sự ám ảnh về cái chết của binh sĩ nơi trận mạc, tự trách mình ham bã vinh hoa, nên đã không cản chàng ra tiền tuyến. Nghĩ đến đây, nàng chẳng còn thiết tha gì cuộc sống, chẳng còn thiết tha gì đến gương lược, chải chuốt, dặm phấn thoa son.  

Rồi nàng ngày đêm khẩn cầu, xin cho chàng được bằng an, được chiến thắng quay trở về, được triều đình ban thưởng, được tiếp tục sống cùng chồng trong tháng ngày hạnh phúc. Mâu thuẫn giữa những đau khổ có thực cùng sự ảo tưởng về cuộc sống vàng son, về tất thắng, về vinh quang, vẫn trở đi trở lại. 

Chinh Phụ Ngâm ra đời trong bối cảnh các phong trào nông dân khởi nghĩa chống triều đình phong kiến nửa đầu thế kỷ mười tám đang dâng lên mạnh mẽ. Trai tráng, đàn ông đều ra trận, còn lại nhà chỉ cha mẹ già, vợ và con thơ. Cả người ra đi và người ở lại đều ngập tràn trong lòng một sự lo lắng, sợ hãi, vì không thể biết được gì về ngày mai của mình. Lý tưởng, công danh, được đặt ra, đối lập với những khát khao hạnh phúc, khát khao lứa đôi, ái ân, gần gụi, đối lập với cả những nhân quả báo ứng của nhà Phật.

Vì là thể thơ cổ, nên tác giả đã viết tác phẩm bằng bút pháp tượng trưng, ước lệ. Tác phẩm chứa đựng nhiều hình ảnh, giàu nhạc tính. Bản dịch với thể song thất lục bát cũng nhờ ưu điểm này của bản gốc mà trở nên xuất sắc, được ưa chuộng, dễ nhớ, dễ ngâm ngợi. 

******

PHAN HUY ÍCH

Phan Huy Ích sinh năm một ngàn bảy trăm năm mươi và mất năm một ngàn tám trăm hai mươi hai. Mới hai mươi bốn tuổi, ông đã đỗ Tiến Sĩ. Ông là quan đại thần của ba triều liên tiếp, đồng thời là nhà ngoại giao xuất sắc của triều Tây Sơn. 

Các nhà nghiên cứu cho rằng, vào thời Tây Sơn, Người viết chính luận hay nhứt là Ngô Thì Nhậm, hay thứ nhì là ông Phan Huy Ích.

Bài tuyên cáo của vua Gia Long, đổi tên nước từ An Nam sang Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ mười chín, chính là do ông Phan Huy Ích viết.

Cũng vào đầu thế kỷ mười chín này, khi cáo quan về quê an dưỡng, ông đã dịch Chinh Phụ Ngâm sang tiếng Nôm. Tên đầy đủ của bản dịch này là Chinh Phụ Ngâm Diễn Ca Tân Khúc. Ông cũng là tác giả của nhiều bài thơ thiền, đến hôm nay vẫn còn lưu lại.

Nhiều người làm công tác nghiên cứu văn học cho rằng, ông Phan Huy Ích, có điều kiện hơn hẳn bà Đoàn Thị Điểm khi phiên dịch tác phẩm Chinh Phụ Ngâm từ tiếng Hán sang tiếng Nôm, Lợi thế ở chỗ, ông sinh vào giữa thế kỷ mười tám và sống qua đến thế kỷ mười chín, là thế kỷ mà nền văn chương Nôm đã hoàn thiện, phát triển, và đã đạt được những thành tựu xuất sắc.

******

ĐOÀN THỊ ĐIỂM

Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm sinh năm một ngàn bảy trăm lẻ năm và mất năm một ngàn bảy trăm bốn mươi tám. Bà nổi tiếng thông minh, hay chữ, từng vào cung của chúa Trịnh để làm Giáo Thụ, dạy con của Chúa, từng vừa dạy học vừa làm nghề thầy thuốc khi từ quan về quê. Học trò khắp nơi theo học bà rất đông, và trong số các học trò của bà, có người sau này đỗ Tiến Sĩ. 

Với nghi án, bà hay ông Phan Huy Ích, ai mới là tác giả đích thực của bản dịch đang lưu hành hiện nay, thì các nhà nghiên cứu cho rằng, thời kỳ ra đời và mất đi của Bà Đoàn Thị Điểm là thời kỳ mở đầu của nền văn học cổ điển Việt Nam, hẳn là bà Điểm khó lòng có điều kiện để dịch tác phẩm Chinh Phụ Ngâm thành một bản văn chữ Nôm chải chuốt và điêu luyện như vậy. 

Tuy nhiên, bản diễn Nôm hiện nay, lại có tên gốc là Chinh Phụ Ngâm Khúc Diễn Ca, và cũng là tên đầu tiên mà bà Đoàn Thị Điểm đặt cho bản dịch của mình.

Tương truyền, so với bà Hồ Xuân Hương và bà huyện Thanh Quan của thế kỷ mười chín, thì bà Đoàn Thị Điểm ở thế kỷ mười tám, ngoài sự thông minh, tài văn chương thơ phú, giỏi nữ công gia chánh, bà là người nổi trội nhứt về nhan sắc. 

Đạo Cao Đài xem bà Đoàn Thị Điểm là kiếp giáng trần của Tứ Nương Diêu Trì Cung.

**

Bà Đoàn Thị Điểm cũng là người có nhiều giai thoại.

Đối Sách Đối Sử:

Năm sáu tuổi, bà đã biết đáp lại câu đối. Anh bà là Đoàn Doãn Luân lấy từ Sử Ký, ra vế: Rắn trắng giữa đường / Ông Quý (Lưu Bang) tuốt gươm mà chém. Bà cũng lấy từ Sử Ký ra, đối lạ: Rồng vàng đội thuyền / Ông Vũ (Hạ Vũ) ngửa mặt mà than.

Đối Chữ Đối Cảnh:

Bữa nọ, Đoàn Doãn Luân thấy bà ngồi soi gương, bèn ra vế: Soi gương vẽ mày / Một nét (điểm) hóa thành hai nét (điểm). Bà quay lại, ngó thấy anh bà đang ngồi rửa tay bên cầu ao, bà rằng: Ra ao ngắm trăng / Một vầng (luân) chuyển thành hai vầng (luân).

******

CHINH PHỤ NGÂM

1- Thuở trời đất nổi cơn gió bụi

2- Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên

3- Xanh kia thăm thẳm từng trên

4- Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?

5- Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt

6- Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây

7- Chín tầng gươm báu trao tay

8- Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh

9- Nước thanh bình ba trăm năm cũ

10- Áo nhung trao quan vũ từ đây

11- Sứ trời sớm giục đường mây

12- Phép công là trọng, niềm tây sá nào

13- Đường rong ruổi lưng đeo cung tiễn

14- Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa

15- Bóng cờ tiếng trống xa xa

16- Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng

17- Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt

18- Xếp bút nghiên theo việc đao cung

19- Thành liền mong tiến bệ rồng

20- Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời

21- Chí làm trai dặm nghìn da ngựa

22- Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao

23- Giã nhà đeo bức chiến bào 

24- Thét roi cầu Vị ào ào gió thu

25- Ngòi đầu cầu nước trong như lọc

26- Đường bên cầu cỏ mọc còn non

27- Đưa chàng lòng dặc dặc buồn

28- Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền

29- Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa

30- Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên

31- Nhủ rồi tay lại trao liền

32- Bước đi một bước lại vin áo chàng

33- Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi

34- Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên San

35- Múa gươm rượu tiễn chưa tàn

36- Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo

37- Săn Lâu Lan, rằng theo Giới Tử

38- Tới Man Khê, bàn sự Phục Ba

39- Áo chàng đỏ tựa ráng pha

40- Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in

41- Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống

42- Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay

43- Hà Lương chia rẽ đường này

44- Bên đường, trông bóng cờ bay ngùi ngùi

45- Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu

46- Ngựa sau còn khuất nẻo Tràng Dương

47- Quân đưa chàng ruổi lên đường

48- Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng?

49- Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng

50- Hàng cờ bay trong bóng phất phơ

51- Dấu chàng theo lớp mây đưa

52- Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà

53- Chàng thì đi cõi xưa mưa gió

54- Thiếp lại về buồng cũ gối chăn

55- Đoái trông theo đã cách ngăn

56- Tuôn màu mây biếc, trải ngần núi xanh

57- Chốn Hàm Dương chàng còn ngảnh lại

58- Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang

59- Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương

60- Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng

61- Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

62- Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

63- Ngàn dâu xanh ngắt một màu

64- Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

65- Chàng từ đi vào nơi gió cát

66- Đêm trăng này nghỉ mát phương nao?

67- Xưa nay chiến địa dường bao

68- Nội không muôn dặm xiết sao dãi dầu

69- Hơi gió lạnh, người rầu mặt dạn

70- Dòng nước sâu, ngựa nản chân bon

71- Ôm yên, gối trống đã chồn

72- Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh

73- Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại

74- Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua

75- Hình khe thế núi gần xa

76- Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao

77- Sương đầu núi buổi chiều như gội

78- Nước lòng khe nẻo lội còn sâu

79- Não người áo giáp bấy lâu

80- Lòng quê qua đó mặt sầu chẳng khuây

81- Trên trướng gấm thấu hay chăng nhẽ

82- Mặt chinh phu ai vẽ cho nên?

83- Tưởng chàng rong ruổi mấy niên

84- Chẳng nơi Hãn Hải thì miền Tiêu Quan

85- Đã trắc trở đòi ngàn xà hổ

86- Lại lạnh lùng những chỗ sương phong

87- Lên cao trông thức mây lồng

88- Lòng nào là chẳng động lòng bi thương?

89- Chàng từ sang Đông Nam khơi nẻo

90- Biết nay chàng tiến thảo nơi đâu?

91- Những người chinh chiến bấy lâu

92- Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây

93- Nức hơi mạnh, ân dày từ trước

94- Trải chốn nghèo, tuổi được bao nhiêu?

95- Non Kì quạnh quẽ trăng treo

96- Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò

97- Hồn tử sĩ gió ù ù thổi

98- Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi

99- Chinh phu tử sĩ mấy người

100- Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn?

101- Dấu binh lửa, nước non như cũ

102- Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương

103- Phận trai già ruổi chiến trường

104- Chàng Siêu tóc đã điểm sương mới về

105- Tưởng chàng trải nhiều bề nắng nỏ

106- Ba thước gươm, một cỗ nhung yên

107- Xông pha gió bãi trăng ngàn

108- Tên reo đầu ngựa, giáo dan mặt thành

109- Áng công danh trăm đường rộn rã

110- Những nhọc nhằn nào đã nghỉ ngơi

111- Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai

112- Thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây 

113- Trong cửa này đã đành phận thiếp

114- Ngoài mây kia há kiếp chàng vay?

115- Những mong cá nước sum vầy

116- Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời

117- Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ

118- Chàng há từng học lũ vương tôn

119- Cớ sao cách trở nước non

120- Khiến người thôi sớm thì hôm những sầu

121- Khách phong lưu đương chừng niên thiếu

122- Sánh nhau cùng dan díu chữ duyên

123- Nỡ nào đôi lứa thiếu niên

124- Quan san để cách, hàn huyên bao đành

125- Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu

126- Hỏi ngày về, ước nẻo quyên ca

127- Nay quyên đã giục, oanh già

128- Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo

129- Thuở đăng đồ, mai chưa dạn gió

130- Hỏi ngày về, chỉ độ đào bông

131- Nay đào đã quyến gió đông

132- Phù dung lại đã bên sông bơ sờ

133- Hẹn cùng ta Lũng Tây nham ấy

134- Sớm đã trông, nào thấy hơi tăm?

135- Ngập ngừng, lá rụng cành trâm

136- Chiều hôm nghe dậy tiếng cầm lao xao

137- Hẹn nơi nao, Hán Dương cầu nọ

138- Chiều lại tìm, nào thấy tiêu hao ?

139- Ngập ngừng gió thổi chéo bào

140- Bãi hôm tuôn dẫy nước trào mênh mông

141- Tin thường lại, người không thấy lại

142- Gốc hoa tàn đã trải rêu xanh

143- Rêu xanh mấy lớp chung quanh

144- Sân đi một bước, trăm tình ngẩn ngơ

145- Thư thường tới, người không thấy tới

146- Bức rèm thưa lần dãi bóng dương

147- Bóng dương mấy buổi xuyên ngang

148- Lời sao mười hẹn, chín thường đơn sai

149- Thử tính lại diễn khơi ngày ấy

150- Tiền sen này đã nẩy là ba

151- Xót người lần lữa ải xa

152- Xót người nương chốn Hoàng Hoa dặm dài

153- Tình gia thất nào ai chẳng có

154- Kìa lão thân, khuê phụ nhớ thương

155- Mẹ già phơ phất mái sương

156- Con thơ măng sữa, vả đương phù trì

157- Lòng lão thân buồn khi tựa cửa

158- Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm

159- Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam

160- Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân

161- Nay một thân nuôi già dạy trẻ

162- Nỗi quan hoài mang mể biết bao 

163- Nhớ chàng trải mấy sương sao

164- Xuân từng đổi mới đông nào còn dư

165- Kể năm đã ba tư cách diễn

166- Mối sầu thêm nghìn vạn ngổn ngang

167- Ước gì gần gũi tấc gang

168- Giãi niềm cay đắng để chàng tỏ hay

169- Thoa cung Hán thuở ngày xuất giá

170- Gương lầu Tần dấu đã soi chung

171- Cậy ai mà gửi tới cùng

172- Để chàng thấu hết tấm lòng tương tư

173- Nhẫn đeo tay mọi khi ngắm nghía

174- Ngọc cài đầu thuở bé vui tươi

175- Cậy ai mà gửi tới nơi

176- Để chàng trân trọng dấu người tương thân?

177- Trải mấy thu, tin đi tin lại

178- Tới xuân này tin hãy vắng không

179- Thấy nhạn luống tưởng thư phong

180- Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng

181- Gió tây nổi không đường hồng tiện

182- Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa

183- Màn mưa trướng tuyết xông pha

184- Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài

185- Đề chữ gấm, phong thôi lại mở

186- Gieo bói tiền tin dở còn ngờ

187- Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ

188- Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai

189- Há như ai hồn say bóng lẫn

190- Bỗng thơ thơ thẩn thẩn hư không

191- Trâm cài xiêm giắt thẹn thùng

192- Lệch làn tóc rối, lỏng vòng lưng eo

193- Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước

194- Bức rèm thưa rủ thác đòi phen

195- Ngoài rèm thước chẳng mách tin

196- Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?

197- Đèn có biết, dường bằng chẳng biết

198- Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi

199- Buồn rầu nói chẳng nên lời

200- Hoa đèn kia với bóng người khá thương 

201- Gà eo óc gáy sương năm trống

202- Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên

203- Khắc giờ đằng đẵng như niên

204- Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa

205- Hương gượng đốt hồn đà mê mải

206- Gương gượng soi lệ lại chứa chan

207- Sắt cầm gượng gảy ngón đàn

208- Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng

209- Lòng này gửi gió đông có tiện

210- Nghìn vàng xin gửi đến non Yên

211- Non Yên dù chẳng tới miền

212- Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời

213- Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu

214- Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong

215- Cảnh buồn người thiết tha lòng

216- Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun

217- Sương như búa bổ mòn gốc liễu

218- Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô

219- Giọt sương phủ bụi chim gù

220- Sâu tường kêu vẳng chuông chùa nện khơi

221- Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc

222- Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên

223- Lá màn lay ngọn gió xuyên

224- Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm

225- Hoa giãi nguyệt nguyệt in một tấm

226- Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông

227- Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng

228- Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau

229- Đâu xiết kể muôn sầu nghìn não

230- Từ nữ công phụ xảo đều nguôi

231- Biếng cầm kim biếng đưa thoi

232- Oanh đôi thẹn dệt bướm đôi ngại thùa

233- Mặt biếng tô miệng càng biếng nói

234- Sớm lại chiều dòi dõi nương song

235- Nương song luống ngẩn ngơ lòng

236- Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai?

237- Biếng trang điểm lòng người sầu tủi

238- Xót nỗi chàng, ngoài cõi Giang Lăng

239- Khác gì ả Chức chị Hằng

240- Bến Ngân sùi sụt cung trăng chốc mòng

241- Sầu ôm nặng hãy chồng làm gối

242- Buồn chứa đầy hãy thổi làm cơm

243- Mượn hoa mượn rượu giải buồn

244- Sầu làm rượu nhạt muộn làm hoa ôi

245- Gõ sênh ngọc mấy hồi không tiếng

246- Ôm đàn tranh mấy phím rời tay

247- Xót người hành dịch bấy nay

248- Dặm xa mong mỏi hết đầy lại vơi

249- Ca quyên ghẹo làm rơi nước mắt

250- Trống tiều khua như đốt buồng gan

251- Võ vàng đổi khác dung nhan

252- Khuê ly mới biết tân toan dường này

253- Nếm chua cay tấm lòng mới tỏ

254- Chua cay này há có vì ai?

255- Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi

256- Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề

257- Thân thiếp chẳng gần kề dưới trướng

258- Lệ thiếp nào chút vướng bên khăn

259- Duy còn hồn mộng được gần

260- Đêm đêm thường đến Giang Tân tìm người

261- Tìm chàng thuở Dương Đài lối cũ

262- Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa

263- Sum vầy mấy lúc tình cờ

264- Chẳng qua trên gối một giờ mộng xuân

265- Giận thiếp thân lại không bằng mộng

266- Được gần chàng bến Lũng thành Quan

267- Khi mơ những tiếc khi tàn

268- Tình trong giấc mộng muôn vàn cũng không 

269- Duy có một tấm lòng chẳng dứt

270- Vốn theo chàng giờ khắc nào nguôi

271- Lòng theo song chửa thấy người

272- Lên cao mấy lúc trông vời bánh xe

273- Trông bến nam bãi che mặt nước

274- Cỏ biếc um, dâu mướt ngàn xanh

275- Nhà thôn mấy xóm chông chênh

276- Một đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm

277- Trông đường bắc đôi chòm quán khách

278- Rườm rà cây xanh ngắt núi non

279- Lúa thành thoi thóp bên cồn

280- Nghe thôi địch ngọc véo von bên lầu

281- Non Đông thấy lá hầu chất đống

282- Trĩ xập xoè mai cũng bẻ bai

283- Khói mù nghi ngút ngàn khơi

284- Con chim bạt gió lạc loài kêu thương

285- Lũng Tây thấy nước dường uốn khúc

286- Nhạn liệng không sóng giục thuyền câu

287- Ngàn thông chen chúc khóm lau

288- Cách ghềnh thấp thoáng người đâu đi về

289- Trông bốn bề chân trời mặt đất

290- Lên xuống lầu thấm thoát đòi phen

291- Lớp mây ngừng mắt ngại nhìn

292- Biết đâu chinh chiến là miền Ngọc Quan ?

293- Dây rút đất dễ khôn học chước

294- Khăn gieo cầu nào được thấy tiên

295- Lòng này hóa đá cũng nên

296- E không lệ ngọc mà lên trông lầu

297- Lúc ngảnh lại ngắm màu dương liễu

298- Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong

299- Chẳng hay muôn dặm ruổi rong

300- Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng?

301- Lòng chàng ví cũng bằng như thế

302- Lòng thiếp đâu dám nghĩ gần xa

303- Hướng dương lòng thiếp như hoa

304- Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương

305- Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái

306- Hoa để vàng bởi tại bóng dương

307- Hoa vàng hoa rụng quanh tường

308- Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần

309- Chồi lan nọ trước sân đã hái

310- Ngọn tần kia bên bãi đưa hương

311- Sửa xiêm dạo bước tiền đường

312- Ngửa trông xem vẻ thiên chương thẫn thờ

313- Bóng Ngân Hà khi mờ khi tỏ

314- Độ Khuê Triền buổi có buổi không

315- Thức mây đòi lúc nhạt hồng

316- Chuôi sao Bắc Đẩu thôi đông lại đoài

317- Mặt trăng tỏ thường soi bên gối

318- Bừng mắt trông sương gội cành khô

319- Lạnh lùng thay bấy nhiêu thu

320- Gió may hiu hắt trên đầu tường vôi

321- Một năm một nhạt mùi son phấn

322- Trượng phu còn thơ thẩn miền khơi

323- Xưa sao hình ảnh chẳng rời

324- Bây giờ nỡ để cách vời Sâm Thương?

325- Chàng ruổi ngựa dặm trường mây phủ

326- Thiếp dạo hài lầu cũ rêu in

327- Gió Xuân ngày một vắng tin

328- Khá thương lỡ hết mấy phen lương thì

329- Xảy nhớ khi cành Diêu đóa Ngụy

330- Trước gió xuân vàng tía sánh nhau

331- Nọ thì ả Chức chàng Ngâu

332- Tới trăng thu lại bắc cầu sang sông

333- Thương một kẻ phòng không luống giữ

334- Thời tiết lành lầm lỡ đòi nau

335- Thoi đưa ngày tháng ruổi mau

336- Người đời thấm thoát qua màu xuân xanh

337- Xuân thu để giận quanh ở dạ

338- Hợp ly đành buồn quá khi vui

339- Oán sầu nhiều nỗi tơi bời

340- Vóc bồ liễu dễ ép nài chiều xuân

341- Kìa Văn Quân mỹ miều thuở trước

342- E đến khi đầu bạc mà thương

343- Mặt hoa nọ gã Phan Lang

344- Sợ khi mái tóc điểm sương cũng ngừng

345- Nghĩ nhan sắc đương chừng hoa nở

346- Tiếc quang âm lần lữa gieo qua

347- Nghĩ mệnh bạc tiếc niên hoa

348- Gái tơ mấy chốc xảy ra nạ dòng

349- Gác nguyệt nọ mơ màng vẻ mặt

350- Lầu hoa kia phảng phất mùi hương

351- Trách trời sao để nhỡ nhàng

352- Thiếp rầu thiếp lại rầu chàng chẳng quên

353- Chàng chẳng thấy chim uyên ở nội

354- Cũng dập dìu chẳng vội phân trương

355- Chẳng xem chim yến trên rường

356- Bạc đầu không nỡ đôi đường rẽ nhau

357- Kìa loài sâu đôi đầu cùng cánh

358- Nọ loài chim chắp cánh cùng bay

359- Liễu sen là thức cỏ cây

360- Đôi hoa cũng sánh đôi dây cũng liền

361- Ấy loài vật tình duyên còn thế

362- Sao kiếp người nỡ để đấy đây?

363- Thiếp xin về kiếp sau này

364- Như chim liền cánh như cây liền cành

365- Đành muôn kiếp chữ tình đã vậy

366- Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau

367- Thiếp xin chàng chớ bạc đầu

368- Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung

369- Xin làm bóng theo cùng chàng vậy

370- Chàng đi đâu cũng thấy thiếp bên

371- Chàng nương vừng nhật phỉ nguyền

372- Mọi bề trung hiếu thiếp xin vẹn tròn

373- Lòng hứa quốc tựa son ngăn ngắt

374- Sức tý dân dường sắt trơ trơ

375- Máu Thuyền Vu quắc Nhục Chi

376- Ấy thì bữa uống ấy thì bữa ăn

377- Mũi đòng vác đòi lần hăm hở

378- Đã lòng trời gìn giữ người trung

379- Hộ chàng trăm trận nên công

380- Buông tên ải bắc treo cung non đoài

381- Bóng kỳ xí giã ngoài quan ải

382- Tiếng khải ca trở lại Thần Kinh

383- Non Yên tạc đá đề danh

384- Triều thiên vào trước cung đình dâng công

385- Nước Ngân Hán vác đòng rửa sạch

386- Khúc nhạc từ réo rắt lừng khen

387- Tài so Tần Hoắc vẹn tuyền

388- Tên ghi gác Khói tượng truyền đài Lân

389- Nền huân tướng đai cân rạng vẻ

390- Chữ đồng hưu bia để nghìn đông

391- Ơn trên tử ấm thê phong

392- Hiển vinh thiếp cũng đượm chung hương trời

393- Thiếp chẳng dại như người Tô Phụ

394- Chàng hẳn không như lũ Lạc Dương

395- Khi về đeo quả ấn vàng

396- Trên khung cửi dám rẫy ruồng làm cao

397- Xin vì chàng xếp bào cởi giáp

398- Xin vì chàng giũ lớp phong sương

399- Vì chàng tay chuốc chén vàng

400- Vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng

401- Giở khăn lệ chàng trông từng tấm

402- Đọc thơ sầu, chàng thẩm từng câu

403- Câu vui đối với câu sầu

404- Rượu khà cùng kể trước sau mọi lời

405- Sẽ rót vơi lần lần từng chén

406- Sẽ ca dần ren rén từng thiên

407- Liên ngâm đối ẩm đòi phen

408- Cùng chàng lại kết mối duyên đến già

409- Cho bõ lúc sầu xa cách nhớ

410- Giữ gìn nhau vui thuở thanh bình

411- Ngâm nga mong gửi chữ tình

412- Dường này âu hẳn tài lành trượng phu.

******

Chinh Phụ Ngâm kể từ lúc ra đời cho đến nay, không biết thời thôi, chớ nếu biết, nếu có từng đọc qua, đều cảm thấy xúc động. Bởi vì, như Hoài Thanh từng khen, tác giả đã cảm được cái cảm của người xưa. 

Thậm chí, khi Chinh Phụ Ngâm Khúc, “vượt biên” qua bên kia đất nước Trung Hoa, tác phẩm cũng đã được nhiều danh sĩ xứ ấy quý trọng và ca ngợi.

Dù vẫn chưa ngã ngũ, bản Chinh Phụ Ngâm đang dùng ngày nay, là của bà Đoàn Thị Điểm hay của ông Phan Huy Ích, thì cá nhân tôi, tôi vẫn cho rằng, đây là một bản dịch tuyệt tác. 

Chinh Phụ Ngâm không chỉ mang tới sự rung động chân thành trong lòng người đọc mà nó còn làm người đọc thấy thêm yêu thơ ca, đặc biệt là thơ ca bằng chữ Nôm. 

Chinh Phụ Ngâm đem lại lòng tự hào, rằng, người Việt mình, từ xưa, không chỉ đấng nam nhi mới thông minh, hiếu học mà ngay cả các bậc nữ lưu, mà người ta hay còn gọi một cách rất phân biệt là, nữ lưu thường tình (yếu đuối, ủy mị, không nhìn xa trông rộng, bịn rịn chồng con) cũng rất tài năng, tài hoa, rất xuất sắc trong nhiều lãnh vực, đặc biệt là lãnh vực dạy học, viết văn, làm thơ và lãnh vực nghiên cứu, dịch thuật. 

******

Đầu thế kỷ hai mươi, năm một ngàn chín trăm mười chín, ở miền nam, tại làng Vĩnh Hương, tổng Thạnh Hòa, tỉnh Bạc Liêu, nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã cho ra đời bản Dạ Cổ Hoài Lang, khi ông bị gia đình chia uyên rẽ thúy với người vợ đã ăn ở ba năm mà chưa có con – tam niên vô tự bất thành thê.

Mỗi khi đàn tấu lên khúc nhạc thiết tha, mỗi khi tiếng ca ai oán cất giọng trầm bổng, lúc tức tưởi lúc nghẹn ngào, là mỗi lần làm cho hàng triệu triệu con tim phải thổn thức theo, xót xa thương cảm cho tình cảnh không được gần nhau, không được bên nhau của đôi mái đầu xanh. 

Mới thấy, bắc nam gì cũng vậy thôi, thời đại nào cũng vậy thôi, phải xa nhau, dù với bất cứ lý do gì, cũng đều là điều làm đau đớn hai kẻ yêu nhau, xé nát tim gan của người thương và người thương:

Từ là từ phu tướng 

Bảo kiếm sắc phong lên đàng

Vào ra luống trông tin nhạn

Năm canh mơ màng

Em luống trông tin chàng

Ôi gan vàng quặn đau í a

Đường dù xa ong bướm

Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang

Đêm luống trông tin bạn

Ngày mỏi mòn như đá vọng phu

Vọng phu vọng luống trông tin chàng

Sao nỡ phụ phàng

Chàng hỡi chàng có hay

Đêm thiếp nằm luống những sầu tây

Bao thuở đó đây sum vầy

Duyên sắc cầm đừng lợt phai í a

Là nguyện cho chàng

Hai chữ an bình an

Mau trở lại gia đàng

Cho én nhạn hiệp đôi í a… .

Sài Gòn 15.02.2024

Phạm Hiền Mây