Sáu cựu Tổng Y sĩ Hoa Kỳ: Nhiệm vụ của chúng tôi là cảnh báo quốc gia về RFK Jr.

0
3
Robert F. Kennedy Jr. điều trần trong phiên điều trần phê chuẩn tại Thượng viện ở Washington D.C. vào ngày 29 tháng 1. (Demetrius Freeman/The Washington Post)

Chúng tôi đã tuyên thệ sẽ công bố các mối nguy hiểm ngay khi phát hiện ra chúng. Hôm nay, chúng tôi lại thực hiện điều đó một lần nữa.
Ngày 7 tháng 10 năm 2025

Tác giả: Jerome Adams, Richard Carmona, Joycelyn Elders, Vivek Murthy, Antonia Novello và David Satcher
Các tác giả đều là những cựu Tổng Y sĩ Hoa Kỳ.
Là những cựu Tổng Y sĩ Hoa Kỳ được bổ nhiệm bởi mọi đời Tổng thống thuộc cả hai đảng Cộng hòa và Dân chủ — bắt đầu từ thời Tổng thống George H.W. Bush — chúng tôi đã cùng nhau dành hàng thập kỷ phục vụ với tư cách là “Bác sĩ của Quốc gia”. Trong suốt cuộc đời mình, chúng tôi đã thực hiện hai lời thề thiêng liêng: thứ nhất, với tư cách là những y bác sĩ đã thề nguyện chăm sóc bệnh nhân; và thứ hai, với tư cách là những công bộc đã cam kết bảo vệ sức khỏe của mọi người dân Mỹ.

Hôm nay, để giữ trọn những lời thề ấy, chúng tôi buộc phải đồng lòng lên tiếng khẳng định rằng những hành động của Bộ trưởng Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh (HHS) Robert F. Kennedy Jr. đang gây nguy hại đến sức khỏe của toàn quốc gia. Chưa bao giờ trước đây chúng tôi lại phải cùng nhau đưa ra một lời cảnh báo công khai chung như thế này. Tuy nhiên, mối đe dọa sâu sắc, cấp bách và chưa từng có tiền lệ mà các chính sách cũng như quan điểm của ông Kennedy đang gây ra đối với sức khỏe cộng đồng là điều không thể phớt lờ.

Mặc dù có những khác biệt về quan điểm, chúng tôi luôn đoàn kết trong một cam kết kiên định đối với khoa học và nền y tế công cộng dựa trên bằng chứng thực tiễn. Chính nguyên tắc chung ấy đã dẫn dắt chúng tôi đến với thời điểm này.

Trong những tháng gần đây, chúng tôi đã chứng kiến ​​với nỗi lo ngại ngày càng tăng khi nền tảng của hệ thống y tế công cộng quốc gia đang bị xói mòn. Khoa học và chuyên môn đang bị đẩy xuống hàng thứ yếu, nhường chỗ cho các hệ tư tưởng và những thông tin sai lệch. Tinh thần làm việc tại các cơ quan y tế của chúng ta đã sụt giảm nghiêm trọng, và nhân tài đang lũ lượt rời đi vào đúng thời điểm chúng ta phải đối mặt với những mối đe dọa ngày càng gia tăng — từ sự bùng phát trở lại của các bệnh truyền nhiễm cho đến sự trầm trọng thêm của các căn bệnh mãn tính.
Để khắc phục những tổn thất này, chúng ta cần một nhà lãnh đạo biết tôn trọng sự chính trực và tính minh bạch của khoa học, biết lắng nghe ý kiến ​​của các chuyên gia, và có khả năng khôi phục niềm tin vào bộ máy y tế liên bang. Thay vào đó, ông Kennedy lại đang trở thành một tác nhân chính thúc đẩy cuộc khủng hoảng này.
Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh (HHS) là một trong những cơ quan dân sự lớn nhất trong chính phủ liên bang, với ngân sách gần 2 nghìn tỷ đô la và quyền giám sát đối với hàng loạt chương trình, cơ quan có ảnh hưởng trực tiếp đến mọi gia đình và doanh nghiệp tại Mỹ: Medicare, Medicaid, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC), Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA), Viện Y tế Quốc gia (NIH), cùng nhiều cơ quan khác. Một bộ máy như vậy đòi hỏi một sự lãnh đạo vững vàng, giàu đạo đức và phải được xây dựng trên nền tảng khoa học vững chắc. Ngược lại, Kennedy đã dành hàng thập kỷ để thúc đẩy những tuyên bố nguy hiểm và đã bị bác bỏ về vắc-xin — đáng chú ý nhất là lý thuyết hoàn toàn thiếu cơ sở cho rằng vắc-xin dành cho trẻ em gây ra chứng tự kỷ. Ông đã lan truyền thông tin sai lệch về vắc-xin HPV — loại vắc-xin giúp phòng ngừa ung thư cổ tử cung — và liên tục xuyên tạc các rủi ro của công nghệ mRNA cũng như các loại vắc-xin phòng chống virus corona, bất chấp những tác động cứu sinh của chúng trong suốt đại dịch.

Năm nay, khi Hoa Kỳ phải đối mặt với đợt bùng phát bệnh sởi tồi tệ nhất trong hơn 30 năm qua, Kennedy lại hạ thấp tầm quan trọng của việc tiêm chủng và chuyển hướng nguồn lực của cơ quan sang các liệu pháp vitamin chưa được kiểm chứng. Hậu quả là: một đợt bùng phát kéo dài nhiều tháng, ba ca tử vong lẽ ra có thể ngăn ngừa được, và là ca tử vong đầu tiên ở trẻ em liên quan đến bệnh sởi tại Hoa Kỳ trong hơn hai thập kỷ qua.
Gần đây hơn, Kennedy đã loại bỏ toàn bộ thành viên của Ủy ban Cố vấn về Thực hành Tiêm chủng, thay thế các chuyên gia khoa học bằng những cá nhân thường thiếu các bằng cấp chuyên môn cơ bản — trong đó, một số người thậm chí còn là những kẻ theo thuyết âm mưu về vắc-xin. Ủy ban mới này đã bắt đầu gieo rắc nghi ngờ về vắc-xin viêm gan B dành cho trẻ sơ sinh, bất chấp hàng thập kỷ dữ liệu đã khẳng định tính hiệu quả cũng như hồ sơ an toàn vững chắc của loại vắc-xin này.
Việc làm mất uy tín của vắc-xin đồng nghĩa với việc làm suy yếu một trong những công cụ y tế công cộng quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Nhờ vào việc tiêm chủng rộng rãi, chúng ta đã thanh toán bệnh đậu mùa, loại trừ bệnh bại liệt tại Hoa Kỳ, đồng thời ngăn ngừa ước tính 1,1 triệu ca tử vong và 508 triệu ca nhiễm bệnh ở trẻ em sinh trong giai đoạn từ năm 1994 đến 2023. Chiến dịch “Operation Warp Speed” (Vận tốc Ánh sáng) — được khởi xướng dưới thời Tổng thống Donald Trump — đã mang những loại vắc-xin mRNA cứu sinh đến với thế giới trong một khoảng thời gian kỷ lục.

Tuy nhiên, Kennedy vẫn tiếp tục phớt lờ khoa học và nguyện vọng của công chúng. Gần đây nhất, Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh (HHS) đã đề xuất áp dụng các nhãn cảnh báo mới đối với những sản phẩm có chứa acetaminophen (Tylenol), với lý do viện dẫn một mối liên hệ được cho là tồn tại giữa việc sử dụng thuốc này trong thai kỳ và chứng tự kỷ. Động thái này đã vấp phải sự lên án mạnh mẽ từ cộng đồng khoa học và y tế; các chuyên gia đã chỉ ra rằng những nghiên cứu hiện có vẫn chưa đưa ra được kết luận rõ ràng, cũng như chưa đủ cơ sở để biện minh cho một cảnh báo như vậy. Trong một phản ứng đặc biệt và chưa từng có tiền lệ, Viện Nhi khoa Hoa Kỳ, Trường Cao đẳng Sản phụ khoa Hoa Kỳ cùng nhiều tổ chức y tế hàng đầu khác đã công bố hướng dẫn chính thức, kêu gọi các bác sĩ và bệnh nhân hãy bỏ qua khuyến nghị của HHS. Thay vì giúp phụ nữ mang thai đưa ra những quyết định sáng suốt trong giai đoạn vô cùng quan trọng của cuộc đời, những quyết định của Kennedy lại có nguy cơ gây ra sự hoang mang, sợ hãi và những tác hại khôn lường.

Thay vì chống lại sự lan truyền nhanh chóng của thông tin sai lệch về sức khỏe bằng sự thật và sự rõ ràng, Kennedy lại đang khuếch đại nó. Hậu quả không phải là trừu tượng. Chúng được đo lường bằng những sinh mạng đã mất, các đợt bùng phát dịch bệnh và sự xói mòn lòng tin của công chúng mà sẽ mất nhiều năm để xây dựng lại.
Điều cần thiết là phải lưu ý rằng khoa học tốt và sức khỏe cộng đồng không chỉ đòi hỏi bằng chứng mà còn cần con người – các nhà khoa học, các chuyên gia y tế công cộng và các công chức có chuyên môn bảo vệ hàng triệu người Mỹ. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Kennedy, lực lượng lao động của HHS đã bị tổn hại nghiêm trọng. Ông ta đã bịt miệng và gạt bỏ hàng trăm nhà khoa học, quan chức y tế công cộng và các chuyên gia y tế, tạo ra một bầu không khí sợ hãi và mất lòng tin. Nhiều chuyên gia y tế công cộng hàng đầu của quốc gia – những người mà chúng tôi đã làm việc cùng trong các cuộc khủng hoảng – đã từ chức hoặc nghỉ hưu sớm. Họ mô tả một nền văn hóa hăm dọa, nơi các phát hiện khoa học bị kiểm duyệt, bằng chứng bị bỏ qua và các quan chức chuyên nghiệp bị gây áp lực để đóng dấu chấp thuận các kết luận không được khoa học chứng minh.

Vụ xả súng tại trụ sở CDC ở Atlanta năm nay chỉ làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng. Với tư cách là những cựu chỉ huy của Quân đoàn Y tế Công cộng Hoa Kỳ, chúng tôi hiểu rằng chăm sóc người dân là nghĩa vụ thiêng liêng của người lãnh đạo. Tuy nhiên, trước thảm kịch, Kennedy đã bôi nhọ nhân viên CDC là tham nhũng và lặp lại những thuyết âm mưu góp phần vào việc nhắm mục tiêu vào chính những nhân viên mà ông ta có trách nhiệm bảo vệ. Chúng tôi sẽ không bao giờ quên những cuộc gọi đau lòng mà chúng tôi nhận được từ các nhân viên CDC, bày tỏ nỗi sợ hãi và cảm giác bị phản bội khi chỉ đơn giản là làm công việc của mình để phục vụ người dân Mỹ.

Điều đáng nhắc nhở chúng ta là Kennedy đang đặt những rủi ro gì. FDA phê duyệt các loại thuốc cứu sinh và yêu cầu các công ty dược phẩm tuân thủ các tiêu chuẩn cao về an toàn và hiệu quả. NIH theo đuổi và tài trợ cho các nghiên cứu tiên tiến. CDC dẫn đầu trong các trường hợp khẩn cấp từ đại dịch đến thuốc giảm đau opioid và thiên tai. Các cơ quan tại HHS đi đầu trong các nỗ lực giải quyết các vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần, rối loạn sử dụng chất gây nghiện, thiếu hụt chăm sóc sức khỏe ban đầu và bảo hiểm y tế cho hàng triệu người cao tuổi, người khuyết tật và người Mỹ có thu nhập thấp. Việc quản lý yếu kém HHS gây nguy hiểm cho sức khỏe của người dân Mỹ, làm suy yếu an ninh quốc gia và làm tổn hại đến khả năng phục hồi kinh tế và uy tín quốc tế của chúng ta.

Hệ thống y tế công cộng của Mỹ đóng vai trò thiết yếu đối với sức khỏe của quốc gia. Chúng ta đều nhận thức rõ rằng các hệ thống này cần được cải thiện, bao gồm việc chú trọng hơn đến các lĩnh vực như phòng ngừa bệnh tật, sức khỏe tâm thần và bệnh mãn tính. Tuy nhiên, công cuộc cải cách phải được xây dựng trên nền tảng của sự thật, sự minh bạch và các bằng chứng khoa học. Nếu thiếu đi nền tảng này, chúng ta không chỉ có nguy cơ làm ngưng trệ tiến trình phát triển mà còn đẩy lùi nó — và cái giá phải trả chính là những sinh mạng con người.
Bộ trưởng Kennedy có quyền giữ những quan điểm riêng của mình. Song, ông không có quyền đặt sức khỏe của người dân vào vòng nguy hiểm. Ông đã khước từ khoa học, gây hiểu lầm cho công chúng và gây tổn hại đến sức khỏe của người dân Mỹ. Quốc gia này xứng đáng có được một vị Bộ trưởng Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh, người thực sự cam kết bảo vệ sự liêm chính của khoa học, đồng thời có khả năng khôi phục tinh thần làm việc và niềm tin vào các cơ quan y tế công cộng của chúng ta. Từng đảm nhiệm các vị trí cấp cao trong chính phủ, chúng tôi hiểu rằng chính trị vốn dĩ rất phức tạp. Thế nhưng, vấn đề này mang tầm vóc lớn hơn cả chính trị. Đó chính là việc phải đặt sức khỏe của người dân Mỹ lên trên hết.