Quê hương thì vĩnh viễn, còn chế độ thì không.

0
8
Photo: Chụp tại nhà Nghệ sĩ Nhân dân Thanh Huyền, cùng các Nghệ sĩ Nhân dân Trà Giang, Bùi Bài Bình, và Ngọc Thu, Thanh Hằng.

Lời dẫn – VietnamWeek

Nhiều câu chuyện về người Việt ở Đông Âu sau năm 1989 thường được kể bằng những con số khô khan: bao nhiêu lao động, bao nhiêu sinh viên, bao nhiêu người ở lại sau khi hệ thống cộng sản sụp đổ. Nhưng phía sau những con số ấy là những lựa chọn cá nhân đầy rủi ro – những bước ngoặt định hình cả một cuộc đời.

Bài viết dưới đây của Lê Diễn Đức, một người Việt từng làm việc trong ngành ngoại vụ trước khi quyết định ở lại Ba Lan vào thời điểm lịch sử ấy, là một hồi ức ngắn nhưng giàu chi tiết. Từ chuyến công tác theo nghị định thư thương mại Việt Nam – Ba Lan năm 1989, đến những năm tháng lập nghiệp tại Warszawa, rồi những lần trở về Việt Nam với những mối quan hệ cá nhân trong bộ máy nhà nước, câu chuyện của ông phản ánh một nghịch lý quen thuộc của thời hậu Chiến tranh Lạnh: ranh giới giữa quan hệ cá nhân và quyền lực chính trị luôn mong manh.

Nhưng trên tất cả, bài viết không phải là một bản cáo trạng, cũng không phải một hồi ký chính trị. Đó là tâm sự của một người Việt xa xứ, mang trong mình tình cảm sâu nặng với quê hương, với những ký ức Hà Nội mùa thu, những ngày nồm ẩm, những buổi gặp gỡ bạn bè thân thiết… Đồng thời, đó cũng là suy ngẫm về một sự thật mà nhiều thế hệ người Việt từng trải nghiệm: đất nước và chế độ không phải lúc nào cũng là một.

Câu chuyện cá nhân này vì thế vượt ra ngoài số phận của riêng một con người. Nó gợi lại cả một giai đoạn lịch sử của cộng đồng Việt tại Đông Âu – nơi nhiều người đã phải đưa ra những quyết định khó khăn giữa sự nghiệp, lý tưởng và tương lai của chính mình.

VietnamWeek trân trọng giới thiệu bài viết như một lát cắt ký ức của thời kỳ chuyển động ấy.

Lê Diễn Đức

Năm 1989 Tổng lãnh sự quán Ba Lan cử tôi đi Ba Lan công tác giúp các công ty Việt Nam triển lãm hàng xuất khẩu theo Nghị định thư giữa Ba Lan và Việt Nam, tôi không ngờ rằng chuyến đi ấy sẽ thay đổi cả cuộc đời mình.

Xong nhiệm vụ, tôi không trở về nước và quyết ở lại Ba Lan làm lại cuộc đời sau 14 năm mưu toan, tính kế. Tôi bị cảnh cáo toàn Sở Ngoại Vụ thành phố Hồ Chí Minh.

Cũng may, đúng lúc này chế độ cộng sản Ba Lan bị xóa sổ. Đại sứ quán Việt Nam tại Ba Lan cũng có cái nhìn thoáng hơn về việc cán bộ, nghiên cứu sinh không trở về nước mà ở lại làm ăn. Tôi không gặp khó khăn gì khi đổi Service Passport qua Passport phổ thông, lập công ty riêng và lăn lộn với thương trường.

Năm 1993, tôi gặp lại người bạn cũ tại Warszawa là Hoàn Ty, sĩ quan an ninh của Bộ Nội Vụ, con của cựu Thủ tướng Phan Văn Khải. Hoàn nói với tôi rằng, anh cứ về Việt Nam chơi, em đảm bảo sẽ không có vấn đề gì xảy ra.

Đúng như thế, tôi về Hà Nội, Hoàn ra sân bay đón, lấy pasport của tôi làm thủ tục ưu tiên tại cửa khẩu và đưa tôi về sống trong một phòng VIP tại Planet Hotel của Hoàn trên đường Quán Thánh.

Từ đó hàng năm tôi thường xuyên về Việt Nam, khi thì đích thân Hoàn, khi thì vợ (con gái của Thứ trưởng Bộ Giáp dục) vào tận bên trong cửa khẩu đón nên không phải xếp hàng chờ.

Năm 1994 tôi về nước chịu tang khi ba tôi qua đời. Năm 1999 tôi hẹn Khánh và vợ người Ba Lan, sống ở Seattle, cùng về và thực hiện một chuyến đi xuyên Việt từ Nam ra Bắc bằng xe hơi.

Cuối năm 1999 tôi tham gia xây dựng báo Đàn Chim Việt ở Ba Lan, thu hút rất nhiều bạn đọc Việt Nam trong nước và khắp 5 châu, Hà Nội cho là “phản động”, thân nhân của tôi được chế độ đưa ra soi trên bàn giải phẫu. Tôi bị cấm nhập cảnh và không còn liên lạc được với Hoàn nữa.

Tôi biết Hoàn giận tôi, vì ở Warszawa Hoàn từng nói với tôi: “Có thằng nào chống đối chế độ ở Ba Lan anh cho em biết, em sẽ xử lý chúng nó”. Tôi đã đặt Hoàn vào vị thế khó xử dù đã thân thiết với nhau rất nhiều năm.

Tôi yêu Việt Nam, những kỷ niệm gặp gỡ, ăn nhậu xôm xả, bia ôm, nhảy nhót, xả láng sáng về sớm… Nhớ cái không khí lành lạnh khi Hà Nội vào Thu, những ngày hanh nồm ẩm ướt khó chịu, hay cả cái không khí náo nhiệt của Sài Gòn, nơi tiếng còi xe inh ỏi suốt đêm ngày… Nhớ tình cảm không thể nào quên của bạn bè thân thiết. Nhớ những con người còn nghèo mà nhã nhặn, thân thiện…

Quê hương mãi đẹp và trường tồn, còn chế độ cai quản nó không bao giờ là vô hạn.