Khi Iran thông báo chỉ các tàu dầu giao dịch bằng đồng Nhân dân tệ (yuan) của Trung Quốc mới được phép đi qua eo biển Hormuz, Iran đang đi một đòn tấn công chiến lược khác hơn cuộc đối đầu không cân sức về quân sự: đó là sự phát động cuộc chiến về hệ thống tiền tệ.
Trong hơn 50 năm qua, thị trường năng lượng thế giới hầu như chỉ giao dịch bằng đồng đô la, vốn được mệnh danh là “đô la dầu lửa”, tức petrodollar.
Năm 1974, sau khi hệ thống tiền tệ bảo chứng bằng vàng bị bãi bỏ, Mỹ và Ả Rập Saudi đã ký thỏa thuận việc bán dầu lửa chỉ được phép giao dịch bằng đô la và ngược lại, Mỹ sẽ bảo vệ và bán vũ khí cho Ả Rập Saudi trong vòng 50 năm. Thỏa thuận này đã khiến các quốc gia sản xuất dầu tại Trung Đông cùng khối OPEC, cũng tiêu chuẩn hóa giá dầu bằng đô la. Hệ thống petrodollar ra đời như vậy và tồn tại đến hiện nay, khi giá dầu thế giới lên xuống luôn được biết đến với giá đô la.
Hệ thống petrodollar đã giúp đưa đồng đô la Mỹ lên vị thế thống trị nền kinh tế toàn cầu, mang lại nhiều lợi ích cho Mỹ khi các quốc gia dầu lửa tái đầu tư tiền bán dầu vào hệ thống tài chính Mỹ, mua lại các khoản nợ của nước Mỹ với lãi suất thấp, giúp Mỹ có thêm nguồn tài chính vốn luôn thâm thủng, còn các quốc gia mua dầu phải dự trữ và phụ thuộc đồng đô la để mua dầu. Petrodollar tạo thêm quyền năng cho đồng đô la, nắm ảnh hưởng lên cả thị trường kinh tế toàn cầu.
Nhưng như tình trạng nước Mỹ, Petrodollar cũng đến lúc thoái trào.
Trong thập niên vừa qua, khi trở thành nền kinh tế hạng nhì thế giới, tham vọng của Trung Quốc là đưa đồng yuan của họ cạnh tranh với đồng đô la, cách riêng là “petroyan” để cạnh tranh với petrodollar. Sàn giao dịch năng lượng quốc tế Thượng Hải bằng đồng yuan ra đời năm 2018 trong mục đích này.
Khối BRICS ra đời, với những quốc gia chủ chốt như Nga, Trung Quốc, Ấn độ, Brasil, Iran… và cả Tiểu vương quốc Ả Rập có mục tiêu thay đổi định chế tài chánh thế giới, trong đó bao gồm việc giảm sự thống trị của đồng đô la trên giao dịch quốc tế qua hệ thống thanh toán và đồng tiền riêng của BRICS, nếu không phải đồng yuan mà Trung Quốc đang muốn.
Không thể thay thế petrodollar một sớm một chiều, Trung Quốc đang thực hiện một chiến lược lâu dài khi xây dựng niềm tin của cộng đồng quốc tế vào đồng yuan, thông qua sự tăng trưởng kinh tế ổn định, con đường liên minh ngoại giao và sự uyển chuyển trong chính sách tiền tệ.
Bên cạnh đó, những cuộc xung đột địa chính trị cùng chính sách bất nhất của nước Mỹ trong thời gian qua cũng đã tạo thêm cơ hội cho Trung Quốc tìm kiếm đồng minh cho các giao dịch thương mại hay dầu lửa nói riêng bằng đồng yuan.
Trên thực tế, trong cuộc chiến Ukraine, do sự cấm vận của Mỹ và phương Tây, Nga đã bán dầu cho Trung Quốc và Ấn Độ bằng đồng yuan hay rupee. Nay đến Iran, các quốc gia cần dầu buộc phải thanh toán bằng đồng yuan để tàu dầu có thể đi qua eo biển Hormuz mà không bị tấn công.
Thỏa ước về petrodollar có thời hạn 50 năm, đã hết hạn hồi năm 2024. Không riêng Iran mà các quốc gia dầu lửa khác nay cũng có thể chuyển sang việc bán dầu lửa bằng đồng yuan hay Euro, nếu điều này có lợi cho họ. Tất nhiên việc này cũng phải chịu áp lực từ Mỹ, nhưng liệu Mỹ có kế hoạch đối phó gì vẫn chưa rõ ràng.
Cuộc chiến Iran và cuộc khủng hoảng năng lượng hiện nay đã tạo ra một bức tranh không mấy gì lạc quan cho đồng petrodollar, hay xa hơn là kinh tế Mỹ, một khi petroyuan đắc lợi trong tình thế này.
Các liên minh mới ra đời, những luật chơi mới được áp dụng, rủi ro không nằm chỉ ở những phi đạn hay chiếc drone tấn công của Iran, hoặc những nguy cơ khủng bố đang được báo động. Mà nó có thể tạo ra cả một hệ lụy kinh tế lâu dài một khi những bước cờ ngạo mạn đến bất cẩn sẽ tạo điều kiện cho chiếc “drone petroyuan” nhắm thẳng vào kinh tế nước Mỹ.
Nhã Duy




































