Nguồn: Jennifer Lind, “China’s Smart Authoritarianism,” Foreign Affairs, 10/02/2026
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Đảng cộng sản đã cân bằng giữa kiểm soát và đổi mới như thế nào?
Quan niệm phổ biến từ lâu luôn cho rằng Trung Quốc sẽ không bao giờ trở thành một cường quốc công nghệ. Từ cuối những năm 1970 đến đầu thế kỷ 21, bất chấp tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, nền tảng công nghệ của nước này vẫn tụt hậu hàng chục năm so với Mỹ. Nhiều nhà khoa học xã hội lỗi lạc đã nhận định rằng Trung Quốc sẽ không thể bắt kịp: họ lập luận rằng các thể chế chuyên chế của nước này đã bóp nghẹt sự đổi mới thông qua đàn áp, kiểm duyệt, và tham nhũng, theo đó ngăn cản Trung Quốc thực sự cạnh tranh với Mỹ. Vì không thể theo kịp Mỹ về công nghệ, nên Trung Quốc cũng không phải là đối thủ về kinh tế hay quân sự.
Nhưng chỉ trong chớp mắt, Trung Quốc đã bất ngờ trở thành một nhà lãnh đạo đổi mới toàn cầu. Các công ty Trung Quốc thống trị các lĩnh vực công nghệ cao như xe điện, pin tiên tiến, năng lượng tái tạo, và viễn thông. Bắc Kinh hiện cũng đang cạnh tranh vị trí dẫn đầu trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, siêu máy tính và khoa học lượng tử – những công nghệ nền tảng cho năng suất và sức mạnh quân sự trong tương lai.
Trung Quốc đã thách thức quan niệm thông thường vì các nhà lãnh đạo nước này hiểu rằng họ phải đối mặt với căng thẳng giữa việc duy trì kiểm soát chính trị và thúc đẩy đổi mới để duy trì tăng trưởng. Theo đuổi cái mà tôi gọi là “chủ nghĩa chuyên chế thông minh,” Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã điều chỉnh các công cụ kiểm soát chuyên chế của mình để đáp ứng nhu cầu của kỷ nguyên thông tin toàn cầu hóa. Bắc Kinh đã tìm ra cách để cung cấp sự tự do cho các doanh nhân và nhà đổi mới, trong khi vẫn ngăn chặn các hành động tập thể và kiềm chế những cảm xúc có thể gây nguy hiểm cho chế độ. Trong nỗ lực duy trì kiểm soát chính trị, ĐCSTQ đã chấp nhận hy sinh một phần tăng trưởng mà lẽ ra có thể đạt được dưới một hệ thống tự do hơn. Nhưng Đảng đã tạo ra đủ không gian để nuôi dưỡng sự đổi mới mà không làm suy yếu quyền lực của mình.
Thành công của Trung Quốc trong việc theo đuổi đổi mới đồng nghĩa với việc một siêu cường chuyên chế hiện đã có khả năng thách thức Mỹ ở Đông Á, hỗ trợ các chế độ chuyên chế trên toàn thế giới, và định hình quản trị toàn cầu để thúc đẩy lợi ích riêng của mình. Nếu Mỹ và các đồng minh muốn giải quyết thách thức ngày càng tăng từ Trung Quốc, trước hết họ phải hiểu các nhà phân tích đã sai lầm như thế nào khi đánh giá thấp nước này.
TỪ TRÌ TRỆ ĐẾN ĐỔI MỚI
Thành công của Singapore, Hàn Quốc, và Đài Loan vào cuối thế kỷ 20 cho thấy các chế độ chuyên chế có thể điều hành cái mà các nhà kinh tế gọi là tăng trưởng đuổi kịp: đưa nền kinh tế từ nghèo đói lên mức thu nhập trung bình tính theo GDP đầu người. Các nhà lãnh đạo của những quốc gia đó đã đầu tư vào giáo dục và cơ sở hạ tầng, chuyên nghiệp hóa bộ máy công chức để cải thiện chất lượng quản trị, và hướng đầu tư vào xuất khẩu hàng sản xuất để phát triển kinh tế. Sự trỗi dậy kinh tế của Trung Quốc đã bắt đầu vào cuối những năm 1970 khi Đặng Tiểu Bình áp dụng mô hình này.
Tuy nhiên, sau khi các nền kinh tế đã bắt kịp, họ không thể cứ mãi dựa vào lao động và vốn giá rẻ để thúc đẩy tăng trưởng trong tương lai. Họ cần nâng cao năng suất thông qua đổi mới sáng tạo. Nhưng nhiều học giả lập luận rằng các biện pháp kiểm soát chính trị mà các chế độ chuyên chế dựa vào để duy trì quyền lực sẽ dập tắt sự đổi mới, vì thế mang lại lợi thế phát triển kinh tế cho các nền dân chủ tự do. Chẳng hạn, Giải Nobel Kinh tế năm 2024 đã được trao cho Daron Acemoglu và James Robinson vì lý thuyết của họ cho rằng các thể chế bao trùm – những thể chế thúc đẩy sự tham gia sâu rộng vào hoạt động kinh tế và tạo ra môi trường kinh doanh ổn định, như quyền sở hữu tài sản, pháp quyền, và một xã hội dân sự cởi mở, năng động – là chìa khóa cho tăng trưởng bền vững.
Các học giả này và những người khác lập luận rằng những thể chế như vậy không tương thích với chế độ chuyên chế. Các nhà cai trị chuyên chế kiểm duyệt thông tin và hạn chế công dân tham gia vào các mạng lưới giáo dục và khoa học toàn cầu. Họ thường cho phép rất ít hoặc không có xã hội dân sự độc lập, kiềm chế hoạt động của khu vực tư nhân, các trường đại học, và các tổ chức phi chính phủ. Và họ cảnh giác với việc hạn chế quyền quyết định tùy ý của mình, hoặc tham gia vào các cải cách có thể phá vỡ các quan hệ bảo trợ vốn là nền tảng quyền lực của họ.
Theo lời của nhà khoa học chính trị Samuel Huntington, các nhà lãnh đạo chuyên chế phải đối mặt với “thế lưỡng nan của nhà vua.” Họ có thể duy trì sự kiểm soát chặt chẽ đối với xã hội, nhưng làm như vậy sẽ kìm hãm sự đổi mới và tăng trưởng. Ngược lại, họ có thể cho phép dòng chảy thông tin tự do hơn và khuyến khích sự sáng tạo và năng động, nhưng rủi ro là mở cửa xã hội cho các nguồn ảnh hưởng và quyền lực thay thế có thể đe dọa chế độ. Do đó, nhiều học giả đã kết luận rằng các chế độ chuyên chế phải đối mặt với một sự lựa chọn khắc nghiệt giữa việc duy trì kiểm soát và sở hữu nền kinh tế đổi mới.
Số phận của các chế độ Đông Á khác dường như ủng hộ những lập luận này – và gợi ý rằng sự tăng trưởng trong tương lai của Trung Quốc sẽ bị cản trở bởi thế lưỡng nan của nhà vua. Hàn Quốc và Đài Loan đã trở nên rất đổi mới, nhưng họ đã dân chủ hóa. Singapore chuyên chế là một ngoại lệ: đảng cầm quyền vẫn cai trị trong lúc đất nước trở nên đổi mới và giàu có. Tuy nhiên, thành công của đảo quốc nhỏ bé này có lẽ là một mô hình khó áp dụng cho một quốc gia như Trung Quốc, với nền kinh tế khổng lồ và hơn một tỷ dân.
CHỦ NGHĨA CHUYÊN CHẾ THÔNG MINH
Trung Quốc đã chứng minh rằng sự không tương thích giữa kiểm soát chính trị và đổi mới công nghệ không hề nan giải như nhiều nhà quan sát vẫn tin. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã cho thấy trường hợp của Singapore cung cấp nhiều bài học cho các quốc gia lớn nhỏ như nhau.
Theo gương các chế độ chuyên chế thông minh khác, ĐCSTQ đã học cách điều chỉnh các công cụ kiểm soát của mình cho phù hợp với nền kinh tế hiện đại. Các nhà lãnh đạo biết rằng đất nước cần lao động tay nghề cao, dòng chảy thông tin, và sự trao đổi hợp tác quốc tế – dù vẫn lo ngại những điều này có thể đe dọa chế độ. Bắc Kinh cũng nhận ra rằng họ cần xây dựng một hình ảnh thân thiện hơn và tránh bạo lực bừa bãi để không vấp phải sự phản đối của cộng đồng quốc tế, trấn an các nhà đầu tư trong nước, và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Hình thức chuyên chế mềm mỏng hơn, thông minh hơn này, như các nhà khoa học chính trị Sergei Guriev và Daniel Treisman đã lập luận, là “sự thích ứng tốt hơn với thế giới của biên giới mở, truyền thông quốc tế, và nền kinh tế dựa trên tri thức.”
Bắt đầu từ những cải cách của Đặng Tiểu Bình, chính phủ Trung Quốc đã tạo ra một lực lượng lao động tay nghề cao bằng cách đầu tư mạnh vào giáo dục đại học tinh hoa. Ngày nay, Trung Quốc dẫn đầu thế giới về đào tạo kỹ sư và tiến sĩ khoa học kỹ thuật, và các trường đại học của họ chiếm tám trong số mười vị trí hàng đầu trên bảng xếp hạng toàn cầu năm 2025 của Đại học Leiden về sản lượng nghiên cứu khoa học. ĐCSTQ cũng chuyên nghiệp hóa bộ máy công chức, triển khai các kỳ thi năng lực nghiêm ngặt và ưu tiên năng lực hơn là các quan hệ. Và chính phủ đã dần cải thiện việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản và luật thương mại. Các tỉnh quảng bá hệ thống quyền sở hữu tài sản của mình để cạnh tranh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, giúp thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế của địa phương.
Trong thời kỳ cải cách, đặc biệt là dưới sự lãnh đạo của Giang Trạch Dân (1989 đến 2002), ĐCSTQ cũng cho phép mở rộng các phương tiện truyền thông thương mại, các công ty tư nhân, và các tổ chức phi lợi nhuận. Một xã hội dân sự lớn mạnh hơn không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cho phép phổ biến các ý tưởng; nó còn củng cố ĐCSTQ, như quan sát của nhà khoa học chính trị Jessica Teets, bằng cách đóng vai trò là nguồn thông tin về các vấn đề xã hội và thúc đẩy các cải cách chính sách giúp củng cố việc nắm quyền của chế độ.
Tuy nhiên, chế độ chưa bao giờ từ bỏ quyền kiểm soát đối với xã hội dân sự. Đảng sử dụng sự độc quyền quyền lực của mình để hướng các chương trình nghiên cứu vào các chủ đề hỗ trợ mục tiêu của nhà nước, hạn chế thảo luận công khai về chính trị, và sẵn sàng định trước các phán quyết tư pháp nếu cảm thấy sự ổn định xã hội hoặc uy tín của mình bị đe dọa. Họ cũng giám sát chặt chẽ các cá nhân, doanh nghiệp, và tổ chức phi chính phủ và chỉ cho phép những người tuân thủ được hoạt động. Ví dụ, vào năm 2009, cơ quan thuế và dân chính đã áp đặt một khoản tiền phạt khổng lồ và thu hồi giấy phép của Sáng kiến Hiến pháp Mở – còn gọi là Công Minh, một tổ chức tư vấn pháp lý nổi tiếng – với cáo buộc trốn thuế đáng ngờ. Trước đó, Công Minh đã công bố các báo cáo nghiên cứu về các vấn đề quản trị, bao gồm các cuộc biểu tình năm 2008 ở Tây Tạng chống lại sự cai trị của ĐCSTQ, và bảo vệ công dân trong các vụ án lợi ích công nổi bật. Nói cách khác, các tổ chức xã hội được cung cấp đủ không gian để đạt được các mục tiêu hạn hẹp phù hợp với ưu tiên của nhà nước, nhưng có nguy cơ bị đóng cửa nếu họ mạo hiểm đi vào lãnh địa đe dọa sự kiểm soát của ĐCSTQ.
ĐCSTQ cũng thích nghi với sự ra đời của truyền thông kỹ thuật số và mạng xã hội bằng cách tiên phong trong các chiến lược mới để kiểm soát thông tin. Dù đôi khi họ quay lại với biện pháp kiểm duyệt nặng tay, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tìm ra những cách mới lạ để kiểm soát không gian công cộng một cách tinh vi và hiệu quả hơn. Chẳng hạn, nhà khoa học chính trị Margaret Roberts chỉ ra cách chế độ làm cho thông tin khó tiếp cận hơn bằng cách làm chậm lưu lượng web hoặc sắp xếp sai lệch tài liệu, nhấn chìm không gian trực tuyến bằng các nội dung ủng hộ chế độ để đánh lạc hướng hoặc làm loãng sự chỉ trích, đồng thời đe dọa người dùng một cách riêng tư để ngăn họ lan truyền tài liệu nhạy cảm.
ĐCSTQ cũng chuyển từ đàn áp cường độ cao sang cường độ thấp. Cuộc đàn áp đẫm máu tại Quảng trường Thiên An Môn năm 1989 đã đưa sự đàn áp của Đảng vào tâm điểm chú ý toàn cầu và làm nản lòng đầu tư nước ngoài vào nước này. Kể từ đó, Đảng đã áp dụng các phương pháp có mục tiêu hơn nhằm kiềm chế các đối thủ trong nước. Như nhà khoa học chính trị Rory Truex đã phát hiện, Bắc Kinh theo dõi chặt chẽ những người bất đồng chính kiến và công dân bất mãn để ngăn họ tham gia biểu tình, sử dụng một “lịch trình bất đồng chính kiến” để bắt giữ các nhà hoạt động xã hội trước các ngày kỷ niệm quan trọng, và tuyển dụng các thành viên gia đình để gây áp lực buộc người biểu tình từ bỏ. Khi chế độ cảm thấy phải dùng đến bạo lực, chẳng hạn như khi muốn cưỡng chế nông dân di dời khỏi đất đai cho các dự án phát triển, họ chọn thuê ngoài việc cưỡng chế cho “côn đồ đánh thuê,” như học giả Lynette Ong lập luận là để tạo khoảng cách với hành vi hung hăng. Và thông qua đầu tư lớn vào AI, đặc biệt là công nghệ nhận diện khuôn mặt và các cơ chế sinh trắc học khác, ĐCSTQ có thể dựa nhiều hơn vào công nghệ thay vì dùi cui để kiểm soát dân chúng.
Quan trọng là, chủ nghĩa chuyên chế thông minh không phải là một chiến lược tối đa hóa tăng trưởng. Các nhà lãnh đạo hiểu rằng với những nỗ lực để giữ quyền kiểm soát, họ đang bỏ lỡ một phần tăng trưởng kinh tế. Đúng là sự cởi mở và tự do lớn hơn có thể mang lại nhiều đổi mới và tăng trưởng nhanh hơn, nhưng nó có thể đi kèm với cái giá là mất quyền lực. Điểm cân bằng tối ưu giữa tự do và kiểm soát sẽ thay đổi tùy theo dư luận, giai đoạn phát triển của nền kinh tế, công nghệ và phương pháp kiểm soát sẵn có, cũng như các động lực tăng trưởng và đổi mới. Các nhà lãnh đạo chuyên chế thông minh phải liên tục điều chỉnh các đòn bẩy kiểm soát để mở cửa xã hội khi có thể và đóng cửa khi cần thiết. Khi họ đạt được sự cân bằng đó, đổi mới có thể thăng hoa ngay cả khi không có các thể chế bao trùm.
SIÊU CƯỜNG CÔNG NGHỆ
Chủ nghĩa chuyên chế thông minh của Trung Quốc đã mang lại những kết quả ấn tượng. Đất nước từng bị xem là kẻ sao chép giờ đây nằm trong số những nước đổi mới nhất thế giới. Năm 2025, Trung Quốc xếp trong top 10 quốc gia có công nghệ tiên tiến nhất trong Chỉ số Đổi mới Toàn cầu, vượt qua Pháp, Đức, và Nhật Bản. Chưa đầy một thập kỷ trước, người tiêu dùng trên khắp thế giới vẫn còn gặp khó khăn khi kể tên một thương hiệu Trung Quốc, nhưng giờ đây, các công ty Trung Quốc như BYD, Huawei, ByteDance, và Alibaba đã trở thành những cái tên quen thuộc của mọi nhà. Chuỗi cung ứng do Trung Quốc thống trị củng cố nhiều ngành công nghiệp công nghệ cao, và nước này nắm phần lớn thị phần trong năng lực sản xuất và chế biến toàn cầu đối với pin, tấm pin mặt trời, và khoáng sản quan trọng. Các công ty Trung Quốc cũng ngày càng cạnh tranh trong các lĩnh vực do các công ty Mỹ, Nhật Bản, hoặc Châu Âu thống trị theo truyền thống, như robot công nghiệp, máy công cụ tiên tiến, và một phần của công nghệ sinh học và dược phẩm sinh học.
Sự tiến bộ của Trung Quốc đã làm thay đổi dòng chảy công nghệ toàn cầu. Suốt hàng thập kỷ, các công ty phương Tây bán sản phẩm cho Trung Quốc và xây dựng nhà máy tại nước này để tiếp cận nguồn lao động giá rẻ và thị trường rộng lớn, trong khi các công ty Trung Quốc hấp thụ sở hữu trí tuệ của phương Tây. Ngày nay, Trung Quốc đã đạt đến biên giới công nghệ toàn cầu trong các ngành công nghiệp như xe điện, pin, máy bay không người lái, và robot; các công ty phương Tây ngày càng phải mua bản quyền công nghệ Trung Quốc và hợp tác với các công ty Trung Quốc để duy trì khả năng cạnh tranh.
Bắt đầu từ năm 2022, Mỹ và các quốc gia khác đã áp đặt kiểm soát xuất khẩu đối với chip tiên tiến để làm chậm tốc độ phát triển AI của Trung Quốc. Nhưng các chính sách này lại kích thích sự đổi mới của Trung Quốc. Năm 2025, công ty AI Trung Quốc DeepSeek cho ra mắt mô hình R1, với hiệu suất hoạt động tương đương với các mô hình ngôn ngữ lớn hàng đầu của Mỹ dù chỉ được huấn luyện trên một phần nhỏ số lượng chip thường được các đối thủ sử dụng. Các công ty khởi nghiệp AI tạo sinh hàng đầu của Trung Quốc –thường được gọi là “lục hổ” (Zhipu AI, MiniMax, Baichuan, Moonshot, StepFun và 01.AI) – đang chiến đấu để giành thị phần và vị trí dẫn đầu kỹ thuật. Trong khi đó, những gã khổng lồ công nghệ như Baidu, Alibaba, Tencent và Xiaomi đang ồ ạt đổ nguồn lực vào phát triển AI. Dù Mỹ vẫn dẫn đầu trong việc sản xuất các mô hình AI nổi bật nhất thế giới, nhưng họ đã bị khóa chặt trong cuộc cạnh tranh công nghệ với quốc gia mà trước đây phải đối mặt với những bất lợi tưởng chừng không thể vượt qua.
Khả năng đổi mới thương mại của Trung Quốc cũng chuyển dịch thành những tiến bộ quân sự và hiện đại hóa Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA). PLA đã tích hợp AI vào chỉ huy, xác định mục tiêu, giám sát, và các hoạt động tự hành. Trung Quốc hiện đang thử nghiệm các bầy đàn AI gồm hàng trăm máy bay không người lái hoạt động tự chủ và đã phát triển các hệ thống quản lý chiến trường thông minh có thể xử lý lượng dữ liệu chiến trường khổng lồ nhanh hơn so với chỉ huy con người. PLA cũng mở rộng cả lực lượng hạt nhân và cải thiện các hệ thống phóng được sử dụng để triển khai chúng, chẳng hạn như các hệ thống ném bom theo quỹ đạo phân đoạn đưa vũ khí vào quỹ đạo tầm thấp của Trái Đất và có khả năng né tránh các hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ. Dù PLA chưa được thử lửa trong chiến đấu, nhưng đổi mới thương mại đã trang bị cho quân đội công nghệ tiên tiến có thể khiến lực lượng của họ có năng lực cao hơn những gì kinh nghiệm thực chiến gợi ý.
KHÔNG CÒN SUY NGHĨ VIỂN VÔNG
Những người hoài nghi có thể lập luận rằng Trung Quốc sẽ không đặt ra một thách thức địa chính trị nghiêm trọng vì họ đang phải đối mặt với hàng loạt vấn đề kinh tế sẽ chiếm hết tâm trí các nhà lãnh đạo và làm giảm năng lực quốc gia. Dù đã có những bước tiến lớn trong đổi mới, nhưng nước này vẫn còn một chặng đường dài để tạo ra đủ năng suất nhằm duy trì tăng trưởng kinh tế – ngay cả ở mức độ thấp hơn nhiều – trong bối cảnh dân số già hóa, thị trường bất động sản suy yếu, và cuộc cạnh tranh giữa các công ty để giành giật lợi nhuận đang thu hẹp khốc liệt đến mức đe dọa làm suy yếu toàn bộ các lĩnh vực.
Những cơn gió ngược kinh tế của Trung Quốc là có thật, nhưng ĐCSTQ đã nhiều lần thách thức các dự đoán về thảm họa chính trị và kinh tế. Sự phẫn nộ của công chúng đối với các lệnh phong tỏa hà khắc thời COVID-19, vốn dường như báo trước một cuộc khủng hoảng sắp xảy ra, đã không làm mất ổn định chế độ. Nước này cũng đạt được tiến bộ đáng kể trong việc làm sạch thiệt hại môi trường, đặc biệt là ô nhiễm không khí, do nhiều thập kỷ tăng trưởng ít được kiểm soát gây ra. Và vào những năm 1990, ĐCSTQ đã giám sát cuộc cải cách lớn đối với khu vực nhà nước cồng kềnh, dẫn đến việc sa thải hơn 30 triệu người. Cần nhiều cải cách hơn nữa đối với khu vực nhà nước để cải thiện hiệu quả sử dụng vốn và thúc đẩy đổi mới, nhưng trong quá khứ, Đảng đã chứng tỏ mình có khả năng vượt qua những thách thức còn khó khăn hơn nhiều.
Việc tập trung quyền lực, các chính sách đàn áp, và các cuộc trấn áp các tổ chức xã hội dân sự và công ty tư nhân của Tập Cận Bình cũng đã dấy lên lo ngại rằng kỷ nguyên chủ nghĩa chuyên chế thông minh của Trung Quốc đã kết thúc, và rằng các chính sách như vậy sẽ bóp nghẹt sự năng động kinh tế của đất nước. Nhưng cần nhớ rằng các giai đoạn thắt chặt là một phần của mô hình chuyên chế thông minh và vẫn thường xuyên tái diễn trong suốt nhiều thập kỷ tăng trưởng nhanh chóng của chính Trung Quốc. Thành công đáng kinh ngạc của Trung Quốc trong lĩnh vực AI – một lĩnh vực không tồn tại trước thời Tập – cho thấy các chính sách của ông đã không ngăn cản sự đổi mới. Và ông dường như cũng nhận thức rõ về sự cân bằng giữa kiểm soát và cởi mở. Sau khi khởi xướng cuộc trấn áp nghiêm ngặt đối với lĩnh vực công nghệ vào năm 2020, làm bốc hơi hơn 1 nghìn tỷ đô la giá trị thị trường của các công ty, Tập đã tập hợp các nhà lãnh đạo doanh nghiệp tư nhân và công nghệ tham dự một hội nghị chuyên đề vào tháng 02/2025 để thể hiện sự ủng hộ của Đảng đối với các doanh nhân trong các lĩnh vực quan trọng. Sang tháng 12, các quan chức đã công bố thành lập một quỹ hướng dẫn đầu tư mạo hiểm do nhà nước hậu thuẫn để rót khoảng 140 tỷ đô la đầu tư vào các lĩnh vực chiến lược như trí tuệ nhân tạo, công nghệ lượng tử, và năng lượng hydro.
Mỹ và các đối tác nên giả định rằng Trung Quốc sẽ vẫn là một cường quốc kinh tế, công nghệ, ngoại giao, và quân sự đáng gờm. Thực vậy, thách thức do Trung Quốc đặt ra thậm chí còn khó hơn nhiều so với siêu cường trước đây là Liên Xô. Trong khi Liên Xô ở thời kỳ đỉnh cao chỉ ở khoảng 40% GDP của Mỹ (điều chỉnh theo sức mua tương đương), Trung Quốc hiện đã vượt quá 100% GDP của Mỹ theo các thước đo tương đương. Nhiều nhà quan sát mong đợi Trung Quốc sẽ lặp lại sự bất lực của Liên Xô trong việc cải cách thể chế để đáp ứng các thách thức của thời đại thông tin, nhưng Trung Quốc lại chứng tỏ mình đã thành thạo trong việc tiếp thu và làm việc với công nghệ mới.
Trung Quốc hiện cũng đặt ra một mối đe dọa quân sự nghiêm trọng đối với Đài Loan và khắp Đông Á – một khu vực mà quân đội Mỹ trước đây từng tự do đi lại không bị cản trở. ĐCSTQ đang chia sẻ các công nghệ kiểm soát của mình với các nhà cai trị chuyên chế trên khắp thế giới, bao gồm Ai Cập, Ethiopia, và Iran, đồng thời thường xuyên đào tạo các quan chức của các quốc gia đó về các phương pháp quản trị chuyên chế. Bắc Kinh cũng đang định hình chiến lược các chương trình nghị sự của các tổ chức quốc tế – và ảnh hưởng của họ đang gia tăng trong lúc chính quyền Trump rút khỏi các nhóm như vậy và Washington tìm cách giảm bớt các trách nhiệm quốc tế của mình. Thành công của chủ nghĩa chuyên chế thông minh Trung Quốc cung cấp một mô hình hấp dẫn cho các nhà lãnh đạo ở những nơi như Ả Rập Saudi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Việt Nam noi theo.
Mỹ không thể đơn giản mong đợi rằng Trung Quốc và chế độ chuyên chế của họ sẽ theo chân Liên Xô rơi vào sọt rác của lịch sử. Quả vậy, trái ngược với sự ngạo mạn của phương Tây, các nhà chuyên chế thông minh đã chứng tỏ mình có khả năng thích ứng và năng lực. Do đó, để đáp ứng thách thức của một Trung Quốc đổi mới, Mỹ phải tận dụng những thế mạnh đã biến họ thành một cường quốc công nghệ: các tổ chức giáo dục đẳng cấp thế giới (và tài năng nước ngoài mà họ thu hút), thị trường tài chính sâu rộng và được quản lý tốt, vị thế lãnh đạo tài chính toàn cầu, văn hóa khởi nghiệp mạnh mẽ, xã hội dân sự năng động, và vị trí độc tôn tại trung tâm của các mạng lưới đổi mới ở cả Châu Âu và Châu Á. Trung Quốc đã cho thấy rằng, thông qua sự thích ứng, các chế độ chuyên chế có thể đổi mới hiệu quả và sẵn sàng cạnh tranh với các nền dân chủ. Mỹ có thể đối phó hiệu quả đến mức nào với sự trỗi dậy của chủ nghĩa chuyên chế thông minh phụ thuộc vào việc chính họ có thể thích ứng hay không.
Jennifer Lind là Giáo sư về Chính phủ tại Đại học Dartmouth và là nghiên cứu viên tại Viện Chatham. Bà là tác giả cuốn sách “Autocracy 2.0: How China’s Rise Reinvented Tyranny.”
Nguồn : NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ




































