TPP – Cơ hội và rủi ro đối với nền kinh tế Việt Nam – Kỳ 2

0
37

TPP tác động đến mọi mặt của nền kinh tế, mang lại cho Việt Nam các cơ hội cải cách thể chế, thúc đẩy thương mại, thu hút đầu tư và tạo ra việc làm. Song, cũng đem đến không ít rủi ro, rủi ro xuất phát từ điểm yếu của người dân, doanh nghiệp trong nước và Chính phủ.

Cơ hội

Cải cách thể chế, môi trường kinh doanh, cơ cấu lại nền kinh tế

Theo báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2015-2016 của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia có năng lực cạnh tranh thấp nhất trong TPP, với các yếu tố đang còn ở mức thấp như Trình độ công nghệ; Giáo dục và đào tạo; Cơ sở hạ tầng và Thị trường tài chính. Các vấn đề trên đều được đề cập tới trong hiệp định TPP, đặc biệt trong chương Phát triển và chương về Dịch vụ tài chính. Vì vậy, TPP sẽ tạo cơ hội, động lực để Việt Nam thúc đẩy cải cách thể chế, hoàn thiện các quy định pháp lý, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, cải cách doanh nghiệp, đặc biệt là khối doanh nghiệp nhà nước, minh bạch và công khai mua sắm chính phủ, nâng cao các tiêu chuẩn về môi trường, lao động,…

Thúc đẩy và cơ cấu lại cán cân thương mại quốc tế

Một trong những mục tiêu lớn nhất khi gia nhập TPP của Việt Nam là tăng cường lợi thế xuất khẩu sang các nước thành viên TPP khi các quốc gia này miễn giảm thuế cho hàng hoá Việt Nam. Hàng rào thuế quan và hạn ngạch được dỡ bỏ là cơ hội để hàng hoá xuất khẩu mở rộng và thâm nhập sâu vào các thị trường trong khối TPP, đặc biệt là các thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản, Úc,… Năm 2014, Việt Nam xuất khẩu sang khối TPP đạt 58,4 tỷ USD, chiếm gần 40% tổng kim ngạch xuất khẩu, việc ký kết hiệp định sẽ là bước ngoặt để Việt Nam mở rộng xuất khẩu tại các thị trường lớn này.

Biểu đồ 4: Cơ cấu thị trường xuất – nhập khẩu từ TPP và các nước khác

Biểu đồ 5: Thu hút FDI từ khối TPP và các nước khác vào Việt Nam

Về nhập khẩu, các doanh nghiệp có thể tận dụng nguyên vật liệu nhập khẩu từ các nước TPP với chi phí thấp giúp giảm chi phí sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh về giá của hàng hoá Việt Nam khi tiếp cận thị trường các nước đối tác, đặc biệt khi phải cạnh tranh với hàng hoá của Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan. Năm 2014, quy mô nhập khẩu từ các nước TPP đạt 34 tỷ USD, chiếm 23% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam. Với trên 65% số dòng thuế được xoá bỏ thuế nhập khẩu ngay khi Hiệp định có hiệu lực và gần 98% số dòng thuế sau 10 năm, đây là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp cắt giảm chi phí đầu vào.

TPP cũng là cơ hội để Việt Nam cơ cấu lại nền kinh tế, cân bằng quan hệ thương mại với các thị trường trọng điểm. Hiện nay, khu vực Đông Á, bao gồm ASEAN, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản và Hàn Quốc luôn chiếm tỷ trọng rất lớn trong kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam, trong đó Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào kinh tế Trung Quốc. Việc tham gia TPP có thể giúp Việt Nam khắc phục tình trạng mất cân đối và đẩy mạnh hợp tác kinh tế, thương mại, dịch vụ với các quốc gia TPP.

Đẩy mạnh đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

Do FDI đóng vai trò trụ cột trong nền kinh tế, những năm gần đây Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, trong đó nổi bật là Luật đầu tư năm 2014 nhằm đơn giản hoá thủ tục đầu tư và tạo môi trường bình đẳng hơn cho các thành phần kinh tế. Với tác động từ TPP, dòng vốn đầu tư dự báo tiếp tục tăng mạnh vào Việt Nam như đã xảy ra trong giai đoạn đầu khi mới gia nhập WTO. Nhật Bản, Singapore, Malaysia, Mỹ – các quốc gia thuộc TPP – đều là các nhà đầu tư hàng đầu hiện nay tại Việt Nam và các doanh nghiệp thuộc các nước này sẽ tiếp tục đầu tư vốn vào Việt Nam để tận dụng lợi thế nhân công rẻ, chi phí thấp.

Bên cạnh đó, dòng vốn FDI dự kiến sẽ tiếp tục tăng từ các quốc gia thành viên TPP khác và các quốc gia tuy không thuộc TPP nhưng có mục đích đầu tư vào Việt Nam để được hưởng các ưu đãi thứ cấp (như Hàn Quốc, Trung Quốc vào lĩnh vực dệt may trong những tháng đầu năm 2015). Năm 2014, thu hút vốn FDI vào Việt Nam đạt 15,5 tỷ USD, trong đó, từ các nước TPP đạt 6,4 tỷ USD, chiếm tỷ trọng gần 30%. Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến năm 2014, tổng vốn đầu tư đăng ký vào Việt Nam đạt 252 tỷ USD, trong đó, từ các nước TPP đạt 100 tỷ USD, chiếm 40%.

Đối với nguồn vốn đầu tư gián tiếp (FII), dòng vốn này dự báo có xu hướng tăng chậm hơn so với giai đoạn 2007 khi mới gia nhập WTO, do khả năng Fed tăng lãi suất khiến dòng vốn có khả năng đi ra khỏi các thị trường mới nổi trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên với các cam kết hội nhập, trong đó có quy định nới room cho các nhà đầu tư ngoại, TPP vẫn là một nhân tố tích cực để thu hút thêm dòng vốn vào thị trường.

Tạo thêm việc làm cũng như cơ hội tiếp cận với công nghệ hiện đại

Dự báo kinh tế Việt Nam sẽ thu hút thêm nhiều vốn đầu tư nước ngoài, tạo nhiều cơ hội việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Trong khi đó, doanh nghiệp trong nước có cơ hội học hỏi chính sách quản lý hiệu quả và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất để nâng cao năng lực cạnh tranh.

Rủi ro

Đối với người dân

  • Một bộ phận người lao động có thể phải chịu rủi ro mất việc làm do hàng hóa sản xuất trong nước không có khả năng cạnh tranh với hàng nhập khẩu, dẫn đến doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất thậm chí giải thể, phá sản. Bên cạnh đó, tham gia TPP sẽ góp phần thúc đẩy tốc độ di chuyển lao động từ nông thôn tới thành phố và các khu công nghiệp. Sức ép về việc làm ở các khu đô thị sẽ tăng lên gây mất cân bằng giữa cung và cầu lao động dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp có nguy cơ tăng cao. Hơn nữa, nguồn nhân lực của Việt Nam trẻ và dồi dào nhưng trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp cũng có thể bị đào thải bởi đội ngũ lao động nước ngoài giàu kinh nghiệm

Đối với Doanh nghiệp trong nước

  • Đối với khu vực doanh nghiệp Nhà nước, nội dung của TPP bao gồm cả hạn chế vai trò của khu vực này khi quy định các doanh nghiệp phải hoạt động dựa theo các nguyên tắc thị trường và phải công khai minh bạch. Khu vực doanh nghiệp Nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn và nhận được nhiều ưu đãi tại Việt Nam trong khi hoạt động không thực sự hiệu quả. Các tiêu chuẩn cao của TPP buộc khu vực này phải đẩy mạnh cải cách, tuy nhiên quá trình tái cơ cấu đang diễn ra khá chậm.
  • Việc cắt giảm thuế quan dẫn đến gia tăng hàng nhập khẩu từ các nước TPP vào Việt Nam với giá cả cạnh tranh, gây áp lực lớn tới hàng hoá trong nước, nhất là nhóm hàng được sản xuất bởi đối tượng dễ bị tổn thương khi hội nhập như nông nghiệp, dẫn tới thị trường hàng hoá, dịch vụ nội địa bị các doanh nghiệp nước ngoài thâm nhập và chiếm lĩnh.
  • Ngành công nghiệp phụ trợ còn yếu kém, số lượng các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu còn thấp, rất ít doanh nghiệp được lựa chọn làm đối tác gia công cho các doanh nghiệp FDI. Với yêu cầu cao về xuất xứ hàng hoá trong TPP, khi công nghiệp phụ trợ kém phát triển, các ngành thế mạnh trong xuất khẩu như dệt may, giày dép, điện tử,… sẽ gặp nhiều khó khăn khi khai thác các ưu đãi từ TPP.
  • Các yêu cầu cao về môi trường, lao động, sở hữu trí tuệ và các ràng buộc trong các quy định liên quan đến xuất xứ hàng hoá, rào cản kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ, gia tăng áp lực và làm phát sinh thêm chi phí hoạt động cho các doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn phải đối mặt với nhiều vụ kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp khi xuất khẩu vào các nước TPP khi các nước này sử dụng các rào cản để bảo hộ sản xuất trong nước.

Đối với Chính phủ

  • Dự báo dòng vốn đầu tư nước ngoài sẽ chảy vào Việt Nam với quy mô lớn khi TPP có hiệu lực, nếu Chính phủ không có các giải pháp điều tiết hợp lý sẽ tiềm ẩn rủi ro mất cân đối vĩ mô (Trong giai đoạn 2006-2011 mức tăng lạm phát thường xuyên ở mức trên 2 con số do sự bùng phát dòng vốn đầu tư nước ngoài sau khi Việt Nam gia nhập WTO vượt quá năng lực hấp thụ của nền kinh tế, cùng với điều hành kinh tế vĩ mô không được điều chỉnh phù hợp để xử lý các bất ổn).
  • Về ngân sách, nguồn thu ngân sách từ thuế xuất nhập khẩu giảm do thuế suất nhiều mặt hàng giảm về mức 0%. Mặc dù tỷ trọng ngày càng giảm nhưng nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu hiện nay vẫn chiếm từ 18-20% tổng nguồn thu ngân sách. Trong bối cảnh thâm hụt ngân sách kéo dài dẫn tới nợ công gia tăng, việc nguồn thu từ xuất nhập khẩu giảm sẽ ảnh hưởng tới việc cân đối ngân sách của Chính phủ trong những năm tới.
  • Bên cạnh đó, theo quy định của TPP, Chính phủ Việt Nam có nguy cơ bị kiện ra Cơ quan giải quyết tranh chấp của TPP nếu có những chính sách ưu đãi với các doanh nghiệp trong nước hoặc đưa ra các luật định đi ngược với những cam kết tại các chương trong Hiệp định.
  • Đối với lĩnh vực mua sắm công, đây là lĩnh vực hoàn toàn mới chỉ quy định trong TPP, các doanh nghiệp nước ngoài có thể chiếm lĩnh lĩnh vực này đặc biệt trong các vụ đấu thầu lớn, trong khi đó khả năng Việt Nam tiếp cận được với thị trường mua sắm công của các đối tác TPP là rất khó do hạn chế về năng lực cạnh tranh.
  • Như vậy, với các rủi ro như trên, khi Việt Nam tham gia vào TPP đòi hỏi Chính phủ phải đổi mới mạnh mẽ, đặc biệt là đổi mới tư duy trong hoạch định chính sách theo nguyên tắc của kinh tế thị trường, tăng cường cơ cấu lại và nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế.

TPP là một hiệp định lớn, tác động đến các yếu tố vĩ mô tổng thể của nền kinh tế và còn lan tỏa đến những yếu tố vi mô hơn – các ngành kinh tế. Cơ hội và rủi ro TPP đem đến cho các ngành kinh tế là khác nhau. Mời các bạn đón đọc bài viết kỳ 3 để thấy được những ảnh hưởng này.

LPBResearch