Những chủ nhà băng này nghĩ họ là ai?
Với biện pháp điều chỉnh tốt hơn, liệu có thể “thuần hóa” các thị trường tài chính để chúng lại trở về với những chức năng xã hội vốn được xem là trách nhiệm đã được mặc định không? Đây là thách thức mà nước Mỹ cũng như cả thế giới đang phải đối mặt – với nhiều dự báo kém lạc quan.
- Bài viết của Joseph E. Stiglitz (Nhà kinh tế học đạt giải Noble năm 2001, từng đảm nhận chiếc ghế Chief Economist - Nhà kinh tế trưởng của World Bank) trên Harvard Business Review -
Lý do thật đơn giản: Dù các chủ ngân hàng quản lý nguồn vốn tài chính rất tệ hại nhưng họ lại “bội thu” từ các khoản đầu tư cho nguồn vốn chính trị. Từ sau cuộc khủng hoảng, họ đã sử dụng mọi nguồn lực chính trị để chế ngự những sai sót của mình.
Là trung tâm của nền kinh tế thị trường tự do trong một thời gian dài, các ngân hàng tự hào với việc phát minh ra nhiều phương thức tối đa hóa lợi nhuận trong khi vẫn kiểm soát được rủi ro. Chìa khóa "thành công" chính là hệ thống phúc lợi mà họ thiết kế để kích thích nhân viên. Dĩ nhiên, khi chúng ta nhìn lại, những việc làm này đã khiến nền kinh tế rơi tự do và phá hủy niềm tin của công chúng.
Là một nhà kinh tế học, tôi đã rất lo ngại về cấu trúc khen thưởng của các ngân hàng. Chỉ cần nhìn sơ qua bạn cũng thấy: các khoản phúc lợi được đánh giá trên thành tích ngắn hạn trong khi các cấp quản lý không chịu toàn bộ trách nhiệm với sai lầm của mình, tất cả cho thấy những hệ thống như thế sẽ dẫn đến chuỗi các hành vi thiển cận và chấp nhận mức độ rủi ro quá giới hạn cho phép. Và sự thực đã chứng minh. Tỷ lệ đòn bẩy vượt quá 30:1, điều này có nghĩa rằng giá tài sản chỉ cần sụt giảm 4% thôi thì toàn bộ giá trị sẽ bị cuốn phăng; hoặc một mức sụt giảm nhỏ hơn cũng báo hiệu sự bất bại trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn cơ bản về hệ số an toàn vốn (CAR). Để đối chiều điều này: năm 2006 ở Mỹ, giá nhà giảm đến hơn 30%, một kỷ lục.
Ảnh: spada.co.uk
Nhưng đó chưa phải là điều tệ nhất. Do các khoản phúc lợi gia tăng khi giá cổ phiếu đi lên nên các ngân hàng tìm cách bóp méo thông tin để có một kết quả kinh doanh "đẹp" hơn thực tế rất nhiều. Họ loại mọi rủi ro ra khỏi bảng cân đối kế toán, đến mức độ khi khủng hoảng nổ ra, họ không biết vị trí thực sự của mình đang ở đâu - và họ cũng không biết tình hình của những định chế khác.
Ngoài ra, cấp quản lý sẽ được khen thưởng nếu mang về lợi nhuận cao mà không cần biết liệu tổ chức đạt được mức lợi nhuận này là do tăng độ mạo hiểm hay thực dự đánh bại được thị trường. Ai cũng có thể chọn cách thứ nhất bởi cách thứ hai gần như là không thể. Thảo nào mà có quá nhiều chuyên gia tài chính của chúng ta chọn con đường bằng phẳng hơn.
Sự việc còn tệ hại hơn bởi "tiền thưởng" chính là một sự lừa dối tinh vi: Phúc lợi cao không chỉ vì hiệu quả kinh doanh tốt mà nó vẫn cao khi thành tích của công ty tồi - và nhiều nghiên cứu cho thấy kịch bản này từng xuất hiện trong các cuộc khủng hoảng trước (chỉ có tên của khoản tiền thưởng là thay đổi, ví dụ như từ "thưởng khuyến khích" thành "thưởng trung thành"). Nếu các ngân hàng thực sự nghiêm túc trong việc xây dựng một hệ thống khen thưởng hiệu quả, thì tiền thưởng phải dựa trên hiệu quả công việc thực tế chứ không phải biến thiên theo sự đỏng đảnh của thị trường chứng khoán.
Hiện nay, người ta vẫn đang tranh cãi xem đâu là nhân tố chịu trách nhiệm lớn nhất trong sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng: quản trị rủi ro yếu kém, trung thành một cách mù quáng với những mô hình sai lầm (mà từng dự báo rằng xác suất xảy ra các biến cố trong cuộc khủng hoảng 2007-2008 vừa qua thì cả cuộc đời... vũ trụ mới có một lần), hay các trò phù phép bảng cân đối kế toán?
Tất cả đều là nguyên nhân. Cho vay theo kiểu "trấn lột" và sự giả dối của các công ty thẻ tín dụng càng khiến bức tranh thêm phần u ám. Nhưng trớ trêu thay, các khoản nợ cầm cố dưới chuẩn mới là nguyên nhân chính. Chúng được thiết kế hỗ trợ các công ty cho vay "cướp bóc" khoản tiền dành dụm cả đời của người nghèo. Và từ đó mà nền kinh tế bắt đầu vỡ vụn.
Suy cho cùng, hệ thống tài chính đã không thể hoàn thành những sứ mệnh của mình: quản trị rủi ro, phân bổ vốn và duy trì chi phí giao dịch ở mức thấp. Mà trái lại, nó tạo ra rủi ro, phân bổ sai lệch nguồn vốn, và tạo ra các khoản phí giao dịch khổng lồ (riêng khoản chi phí này chiếm đến 40% lợi nhuận của các doanh nghiệp trong những năm trước khủng hoảng). Và có cả sự lãng phí nguồn nhân lực khi những tài năng trẻ của nước Mỹ đánh mất mình vì sức cám dỗ của đồng tiền dễ kiếm. Nếu những bộ óc tài năng này được sử dụng trong lĩnh vực khác, biết đâu họ sẽ chấn hưng xã hội bằng nhiều khám phá và phát minh độc đáo của mình.
Hoàng Trung dịch