Tình - truyện kể của sự im lặng

Tác phẩm Tình vỏn vẹn 140 trang nguyên bản (129 trang bản dịch) nhưng sức nặng về tâm lý, những ám ảnh và nỗi đau không nhẹ nhàng như vậy.

Tác phẩm: Tình

Tác giả: Marguerite Duras

Nhã Nam và NXB Hội Nhà Văn

Mở  đầu tác phẩm Tình mở ra một khung cảnh bờ biển "thấp, lặng, mùa vô định", trên đó là ba điểm của một tam giác, một điểm chuyển động theo những bước đi của "người đàn ông đi bộ". Một không gian, có chuyển động, đơn điệu và không âm thanh. Nó gợi liên tưởng đến các tác phẩm điện ảnh mang tính thể nghiệm của Duras, như India Song (Bài ca Ấn Độ - 1975) với những hình ảnh tĩnh tại của ba nhân vật: đứng đó, không nói gì, không tiếng động, thỉnh thoảng chỉ có một giọng kể chuyện ngắn gọn, rời rạc như tiếng thở than mệt mỏi. Sự câm lặng giải thích cho xu hướng cô đọng của các tiểu thuyết - hay "tiểu thuyết mini" của Marguerite Duras.

Tác phẩm Tình chỉ vỏn vẹn 140 trang nguyên bản (129 trang bản dịch) nhưng sức nặng về tâm lý, những ám ảnh và nỗi đau không nhẹ nhàng như vậy. Nó đè nặng trong những khoảng trống văn bản, trong những dấu chấm lửng, trong những hành động lặp lại, lặng lẽ của các nhân vật không tính cách.

Tính thể nghiệm thể hiện trong những tác phẩm của Duras ở sự chênh lệch giữa hình ảnh và lời nói. Trong điện ảnh và sân khấu, đó là hình ảnh tĩnh trong một khoảng thời gian và không gian ít lời thậm chí là câm lặng; trong văn chương đó là sự cô kết và rời rạc của lời từ. "Một truyện kể của sự im lặng bị ngắt quãng bởi ngôn từ"19 - đó là nhận xét của Julia Kristeva về tác phẩm Tình.

Sự im lặng bao trùm toàn bộ tác phẩm, nó không chỉ làm nền cho hành động mà còn choán ngợp và đôi khi làm lu mờ cả hành động. Về mặt văn bản, sự im lặng được thể hiện qua những khoảng trống.

Lướt qua cuốn sách ta có cảm giác như đây là một văn bản thưa thớt. Có những chỗ xuống dòng chỉ có một câu, thậm chí một câu chỉ có hai chữ, rồi lại xuống dòng mới. Những câu văn ngắt quãng bằng dấu phẩy, bị bỏ lửng hay kết thúc bằng im lặng hiển hiện qua những dấu ba chấm.

Chính vì vậy, khi dịch tác phẩm này, dịch giả không đi tìm một giọng văn dịch mạch lạc, trôi chảy mà ngắn gọn có khi cộc lốc. Tiêu đề chỉ vỏn vẹn một chữ Tình, nhưng cái "tình" nó nặng hơn "tình yêu" rất nhiều. Trang bìa cũng là một ẩn số như chính nội dung, không hình ảnh như tác phẩm thiếu âm thanh, nhân vật không cá tính.

Có  khi sự im lặng lại được diễn tả thành lời. Từ "im lặng" xuất hiện 19 lần trong bản dịch, hay "thinh lặng" 7 lần (nguyên bản là  "silence", "silencieux", "se taire"). Nó còn được thể hiện bằng những diễn đạt khác như "không nói" hay "không nói gì".

Sự im lặng đó không chỉ là hữu thức mà còn vô thức, khi nhân vật muốn nói, nhưng không thể vì "Tôi không biết từ ngữ để nói lên điều đó" (tr. 59) hay "miệng mở ra, không một âm thanh nào phát ra, anh vẫn cố gắng nói, không làm được" (tr. 65). Những lời thoại bị đứt đoạn bởi các quãng nghỉ "anh ngừng lại" hay "cô chờ đợi". Sự bất lực trong ngôn ngữ gây nên những quãng ngừng, quãng đợi ấy.

Nhân vật ngừng lại, do dự để tìm lời, để cố gắng phát ra lời. Nhưng đôi khi những cố gắng ấy chỉ là vô ích: "Câu nói để mở, cô không biết phần kết của nó" (tr. 56). Mạch kể chuyện cũng vậy, do dự, đứt quãng với hàng loạt dấu phẩy, đoạn ngắn, câu ngắn chỉ với hai ba từ - một chủ một vị hay có khi chỉ bằng một từ.

Ngôn ngữ bằng lời còn được thay thế bằng ngôn ngữ cơ thể. Các nhân vật đối thoại với nhau bằng bàn tay, ánh mắt. Những miêu tả như  một ống kính máy quay tập trung vào một hoạt  động đơn điệu của cánh tay thay vì hoạt động của chính nhân vật. Không phải là con người mà chỉ một bộ phận cơ thể làm chủ ngữ cho hành động, ví như: "Cánh tay lại rơi xuống" (tr. 11) thay vì "Cô buông cánh tay xuống"...

Không nói thành lời họ "chỉ" hay "ra hiệu". Đôi khi cử chỉ của bàn tay còn giúp nhân vật tìm thấy lời nói: "Xong cử chỉ, anh mới trả lời được một chút" (tr. 16). Cùng với những diễn đạt về sự im lặng, mật độ động từ "nhìn" cũng xuất hiện dày đặc trong tác phẩm (153 từ trong bản dịch, nguyên bản là "regarder", "regard", "voir", "vue"). Một nhân vật được gọi tên bằng "người đàn ông đang nhìn". Những cái nhìn dò xét người này tới người kia, những cái nhìn mặt đối mặt đối thoại thay lời. Những cái nhìn đăm đăm, lạc lõng, lơ đễnh... phải chăng còn chất đầy cảm xúc, trạng thái hơn cả lời nói?

Đặc biệt, trong nhiều tác phẩm của Duras như Nỗi đau, Nhịp điệu ôn hoà trầm bổng hay Phó lãnh sự luôn song hành với sự im lặng là tiếng hét - một phát ngôn hoang dại không cấu âm. Giống như im lặng, nó xuất hiện vào những khoảnh khắc của những xúc cảm mạnh mẽ tột bậc, khi người ta không nói được thành lời.

Sự im lặng và tiếng hét quan hệ chặt chẽ với nhau: tiếng hét xé toạc sự lặng im và mở ra lời kể trần thuật, sự im lặng dẫn trước hoặc theo sau tiếng hét. Tiếng hét như một nỗi đau quặn thắt rồi bục phá khỏi sự lặng im: "đến lượt người đàn ông đang nhìn nhắm mắt lại và dưới thôi thúc đang xâm chiếm lấy anh, nâng anh lên, nâng gương mặt anh lên trời, mặt anh nhăn nhó và anh hét." (tr. 10).

Im lặng và gào thét, tưởng như là hai cực mâu thuẫn nhưng lại gặp nhau trong tác phẩm của Duras như cực điểm của cảm xúc và nỗi đau.

Tình - truyện kể cô đọng, hổng khuyết và đứt đoạn với những nhân vật như những bóng ma không mặt đầy sức khơi gợi. Kỹ thuật kể truyện trong sự trống rỗng biến người đọc của Duras thành nhân tố đồng sáng tạo nên tác phẩm.

Sự im lặng đòi hỏi độc giả phải đọc chậm lại, ngẫm ngợi để xâm nhập vào nó, khám phá và tự sáng tạo những điều ẩn chứa trong nó. Không lời từ hoá ra còn hơn cả lời từ, nó đẩy những xúc cảm nội tâm vốn không hề giản đơn trong sáng tác của Duras lên tột cùng, đỉnh điểm.